Sự nguy hiểm của tia Phóng Xạ

Từ FOSS Vietnam - Giáo Dục Môi Trường
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Chernobyl.jpg


- 50 microsievert là mức phóng xạ 1 người phải chịu cho 1 lần chụp X-quang

- 190 microsievert là mức phóng xạ cho 1 chuyến bay khứ hồi Tokyo – New York

- 600 microsievert là mức phóng xạ cho 1 lần chụp X-quang chi tiết kiểm tra dạ dày

- 2400 microsievert là mức trung bình 1 người bình thường trên thế giới phải chịu phóng xạ trong 1 năm

- 6900 microsievert là mức phóng xạ cho 1 lần chụp CT lồng ngực

- 50.000 microsievert là mức tối đa 1 năm cho 1 người làm việc ở nơi có nguyên liệu phóng xạ

- 100.000 microsievert là mức có thể gây ung thư 0,5%.



Bệnh nhiễm phóng xạ 

Bệnh do tác động của các bức xạ ion hoá lên cơ thể quá liều lượng cho phép. Có thể gặp ở các bệnh nhân được khám chữa bằng các tia X hay các chất phóng xạ, các nạn nhân của các vụ nổ nguyên tử, tai nạn ở nhà máy điện nguyên tử hay ở các phòng thí nghiệm nghiên cứu hạt nhân nguyên tử.



Tuỳ mức độ và thời gian nhiễm xạ, bệnh biểu hiện ở trạng thái cấp tính hay mạn tính. Trạng thái cấp tính (ngoài trung tâm nổ) với các tai biến thần kinh làm chết ngay hay sau vài giờ; các tai biến tiêu hoá (nôn mửa, ỉa chảy, sốt...) trong 15 ngày đầu và làm chết nhanh; các tai biến máu do teo tuỷ xương xuất hiện sau 2 - 3 tuần, gây chết do giảm khả năng tạo huyết ở tuỷ xương. Rất ít khi khỏi bệnh. Các bệnh nhân bị nhiễm xạ có thể có biểu hiện tức thời, nhẹ, thoáng qua như say sóng (hay ngáp, buồn nôn, nôn, da nhợt nhạt, ra mồ hôi, muốn xỉu); có thể có biểu hiện chậm như mệt mỏi, phân lỏng, nôn, sốt, khó thở, hạ huyết áp, do tia xạ phá huỷ máu, do nhiễm độc từ mô (ung thư). Dự phòng: thầy thuốc cần hạn chế chỉ định các xét nghiệm X quang, phóng xạ tới mức cần thiết (đặc biệt đối với phụ nữ có thai, trẻ em...); trong điều trị bằng tia phóng xạ, cần theo dõi, chăm sóc bệnh nhân thật chu đáo; bảo hộ lao động, thực hiện các chế độ, chính sách đầy đủ cho người sử dụng thiết bị hoặc tiếp xúc với các chất phóng xạ, vv.

Chất phóng xạ:

Chất phóng xạ là một dạng năng lượng tự nhiên có trong đất, từ ánh sáng mặt trời và các tia vũ trụ, ngoài ra còn xuất phát từ các nguồn nhân tạo như máy chụp X-quang, các máy móc y tế dùng phóng xạ để chẩn đoán và điều trị, các thiết bị thăm dò… Bởi vậy, chúng ta đều có thể tiếp xúc, ăn uống, hít thở phải CPX.

Các CPX nhân tạo đã đem lại nhiều lợi ích trong chẩn đoán, điều trị bệnh, cũng như hàng loạt kỹ thuật trong khoa học, nghiên cứu sinh học, nông nghiệp và công nghiệp. Tia X dùng để soi hành lý tại sân bay, kiểm tra các khuyết tật mối hàn và các vết hàn hoặc các vết nứt trong công trình xây dựng… Bức xạ (BX) mạnh được sử dụng thành công trong việc phát triển 1.500 giống cây lương thực và cây trồng cho sản lượng cao, chống chịu tốt hơn với điều kiện thiên nhiên và sâu bệnh.

Ảnh hưởng của CPX đến cơ thể:

Một lượng BX ion hóa nhỏ nhất xuyên qua tế bào sống có thể làm tổn thương lâu dài đến mô, ảnh hưởng đến hoạt động tế bào, gây nên các phản ứng nhẹ như da đỏ ửng, hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng như ung thư và tử vong, tùy lượng CPX mà cơ thể hấp thụ, loại PX, cách tiếp xúc và thời gian tiếp xúc.

Liều cao một lần có thể gây tử vong, trong khi với cùng liều như vậy nhưng hấp thụ lâu dài có thể không gây bất cứ biểu hiện bệnh tật nào. Tiếp xúc với PX liều lượng ít gây tổn thương nghiêm trọng phân tử DNA di truyền, các tế bào không bình thường được hình thành và sản sinh có thể làm tăng nguy cơ ung thư hoặc các ảnh hưởng xấu khác đối với sức khỏe.

Triệu chứng nhiễm xạ :

Điều quan trọng là tổn thương BX không có các dấu hiệu và triệu chứng đặc biệt, do đó nạn nhân không ý thức được rằng mình có thể đã bị chiếu xạ.

Các triệu chứng khởi phát sau khi bị chiếu xạ:
- Buồn nôn, mệt mỏi kèm theo ban đỏ, có thể sốt kèm tiêu chảy và các triệu chứng khác không giải thích được nguyên nhân. Tiếp theo là một thời kỳ ủ bệnh với thời gian khác nhau, đặc trưng bởi các triệu chứng viêm nhiễm, chảy máu, bệnh dạ dày và ruột, thiếu các tế bào máu.
- Thương tổn da không do các nguyên nhân sau: bỏng nhiệt hoặc hóa chất, bị côn trùng cắn, có bệnh sử về da hoặc dị ứng thuốc. Có triệu chứng rụng lông hoặc có vấn đề về máu (như đốm máu, chảy máu răng hoặc mũi), buồn nôn và nôn mửa 2-4 tuần trước đó.
- Chiếu xạ cục bộ, tùy thuộc liều chiếu, có thể khiến cho vùng bị chiếu lên ban đỏ, phù nề, bỏng rộp khô và ướt, tróc vảy, đau đớn, hoại tử hoặc rụng lông. Những tổn thương da cục bộ tiến triển chậm có thể gây đau đớn và khó điều trị.
Nguồn xạ trong thiết bị xạ trị có thể chỉ chiếu một vùng nhỏ trên da và tế bào. Trong những trường hợp đó, liều cao cũng không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng có thể gây ra tổn thương cục bộ, các bộ phận khác như cơ quan nội tạng, tủy xương, trung tâm thần kinh vẫn tiếp tục hoạt động bình thường.

Tuy vậy, khi da gặp nguồn xạ mạnh sẽ bị tổn thương nghiêm trọng với những vết đỏ, phồng rộp và loét. Nếu liều không cao lắm, vết thương có thể lành sau vài tuần. Nhưng nếu liều cao diệt hết các tế bào da, thì việc lành vết thương sẽ rất lâu và để lại sẹo. Nếu các tuyến sinh dục phải chịu liều ngang với liều toàn thân gây tử vong, thì xảy ra khả năng vô sinh tức thời hoặc vĩnh viễn. Trong xạ trị, khi một khối u ác bị chiếu liều cao liên tục hằng ngày trong vài tuần, thì các mô khỏe liền kề cũng bị ảnh hưởng.

Nếu nghi ngờ có nhiễm bẩn phóng xạ, cần tránh sự lan rộng của CPX bằng cách ly. Liên hệ với cơ quan an toàn BX hoặc cơ sở dịch vụ để kiểm xạ và thử máu, cứ 4-6 giờ một lần trong một ngày để đánh giá biểu hiện giảm bạch cầu trong máu. Theo y học cổ truyền, việc ăn chay có thể chống lại các bức xạ và tia cực tím. Tương đậu nành có tác dụng loại bỏ các chất độc kim loại, hóa chất và phóng xạ ra khỏi cơ thể cũng như có thể giải độc “nicotine” của thuốc lá, trong gạo lứt có glutation cũng có tác dụng chống lại các loại phóng xạ.
 

Phơi nhiễm phóng xạ: 
Triệu chứng và cách điều trị 


Nếu bị phơi nhiễm phóng xạ ở mức cao hơn, tất cả các cơ quan nội tạng đồng loạt bị tổn thương nhanh chóng, có thể dẫn đến tử vong.

Các triệu chứng của phơi nhiễm phóng xạ

Phơi nhiễm phóng xạ ở mức độ trung bình, trên 1 đơn vị Gy, (có 7 cấp độ phơi nhiễm từ 1 Gy tới 7 Gy) có thể khiến chúng ta bị ốm, với hàng loạt triệu chứng. Vài giờ sau khi bị phơi nhiễm, thường bắt đầu bằng các triệu chứng buồn nôn và nôn, sau đó là tiêu chảy, đau đầu, sốt.

Sau những triệu chứng đầu tiên, có thể có một khoảng thời gian ngắn cơ thể dường như trở lại bình thường, không có biểu hiện ốm đau gì.

Nhưng sau đó vài tuần là những triệu chứng mới, nghiêm trọng hơn như tiêu chảy ra máu, rụng tóc, loét miệng. Đặc biệt là bệnh nhiễm phóng xạ sẽ dẫn đến tình trạng chảy máu tự phát (khiến cho mũi, họng, răng chảy máu tự nhiên. Từ đó rất dễ gây ra chảy máu từ các bộ phận khác, thậm chí còn gây ra chứng nôn ra máu)

Nếu bị phơi nhiễm phóng xạ ở mức cao hơn, tất cả những triệu chứng trên có thể được biểu hiện ngay, cùng đó là các cơ quan nội tạng đồng loạt bị tổn thương nhanh chóng, có thể dẫn đến tử vong.

Người lớn khỏe mạnh nếu bị phơi nhiễm phóng xạ ở mức 4 Gy thường cũng sẽ bị tử vong trong vòng nửa tiếng.

Các phần của cơ thể có khả năng tổn thương lớn nhất khi bị phơi nhiễm gồm các mô ở ruột và dạ dày, và các tế bào sản sinh máu trong tủy xương.

Điều trị như thế nào?

Cần cố gắng giảm thiểu việc phơi nhiễm thêm phóng xạ bằng cách cởi bỏ quần áo, giầy dép và rửa da (nhẹ nhàng) bằng xà phòng và nước.
Sau đó có các loại thuốc làm tăng sản xuất bạch cầu, nhằm ngăn chặn tổn thương có thể gây ra đối với tủy xương, giảm nguy cơ bị nhiễm trùng thêm do hệ thống miễn dịch.

Cũng có thể sử dụng những loại thuốc đặc trị giúp giảm tổn thương đối với các cơ quan nội tạng do các phân tử phóng xạ gây ra.

Nguy cơ lâu dài lớn nhất đối với nhiễm phóng xạ là ung thư. Ung thư xảy ra khi tế bào mất khả năng này, trở nên bất tử, vẫn tiếp tục phân chia và phân chia một cách mất kiểm soát. Phơi nhiễm phóng xạ có thể làm cho cơ thể bị biến đổi gen của cơ thể. Đặc biệt là di truyền sang thế hệ con cháu, đầu hoặc kích thước não nhỏ hơn, mắt kém, phát triển chậm, và tiếp thu đặc biệt kém.

Đặc biệt, trẻ em là đối tượng có thể bị nhiễm phóng xạ ở nguy cơ cao.

Phóng xạ


Phóng xạ là hiện tượng một số hạt nhân nguyên tử không bền tự biến đổi và phát ra các bức xạ hạt nhân (thường được gọi là các tia phóng xạ). Các nguyên tử có tính phóng xạ gọi là các đồng vị phóng xạ, còn các nguyên tử không phóng xạ gọi là các đồng vị bền. Các nguyên tố hóa học chỉ gồm các đồng vị phóng xạ (không có đồng vị bền) gọi là nguyên tố phóng xạ.

Tia phóng xạ có thể là chùm các hạt mang điện dương như hạt anpha, hạt proton; mang điện âm như chùm electron (phóng xạ beta); không mang điện như hạt nơtron, tia gamma (có bản chất giống như ánh sáng nhưng năng lượng lớn hơn nhiều). Sự tự biến đổi như vậy của hạt nhân nguyên tử, thường được gọi là sự phân rã phóng xạ hay phân rã hạt nhân.

Tự phân hạch là quá trình hạt nhân của các nguyên tử phóng xạ có số khối lớn. Ví dụ uranium tự vỡ ra thành các mảnh hạt nhân kèm theo sự thoát ra nơtron và một số hạt cơ bản khác, cũng là một dạng của sự phân rã hạt nhân.

Trong tự phân hạch và phân rã hạt nhân đều có sự hụt khối lượng, tức là tổng khối lượng của các hạt tạo thành nhỏ hơn khối lượng hạt nhân ban đầu. Khối lượng bị hao hụt này chuyển hóa thành năng lượng khổng lồ được tính theo công thức nổi tiếng của Albert Einstein E=mc² trong đó E là năng lượng thoát ra khi phân rã hạt nhân, m là độ hụt khối và c=298 000 000 m/s là vận tốc ánh sáng trong chân không.

Sự phóng xạ tự nhiên

Năm 1896, nhà vật lý người Pháp Henri Becquerel và sau đó là ông bà Pierre Curie và Marie Curie phát hiện ra rằng các hợp chất của uranium có khả năng tự phát ra những tia không không nhìn thấy được, có thể xuyên qua những vật mà tia sáng thường không đi qua được gọi là các tia phóng xạ. Dưới tác dụng của điện trường tia phóng xạ bị tách làm 3 tia:

* Tia anpha lệch về phía cực âm của điện trường, gồm các hạt anpha mang điện tích dương (gấp 2 lần điện tích của proton), có khối lượng bằng khối lượng của nguyên tử heli.
* Tia beta lệch về phía cực dương của điện trường gồm các hạt electron.
* Tia gamma không lệch về cực nào của điện trường, có bản chất như tia sáng.

Những nghiên cứu về bản chất của các hiện tượng phóng xạ chứng tỏ rằng hạt nhân của các nguyên tử phóng xạ không bền, tự phân hủy và phóng ra các hạt vật chất khác nhau như hạt anpha, beta kèm theo bức xạ điện từ như tia gamma. Đồng thời với hiện tượng phóng xạ tự nhiên, người ta cũng phát hiện một số loại nguyên tử của một số nguyên tố nhân tạo cũng có khả năng phóng xạ.

 


Việc sử dụng các tia phóng xạ hay bức xạ ion hoá ngày càng được mở rộng. Việc nghiên

cứu và ứng dụng các tia phóng xạ đã có nhiều tiến bộ, làm đảo lộn các kỹ thuật trong công

nghiệp, nông nghiệp, y học hoặc sinh học. Thành tựu của ngành vật lý hạt nhân cho phép sử

dụng năng lượng hạt nhân vào nhiều ngành kinh tế quốc dân. Sau này, chắc chắn nguồn năng

lượng to lớn cần thiết cho hoạt động của con người sẽ là phần lớn là năng lượng hạt nhân, qua

các nhà máy điện nguyên tử.

  Ở nước ta hiện nay, phóng xạ cũng đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành: mỏ, địa

chất, thăm dò dầu khí, y tế, v.v… Riêng trong ngành y tế, đội ngũ thầy thuốc X quang hàng

ngày phải tiếp xúc với tia X, cũng đã rất đông đảo. Dù có những phương tiện che chắn, phòng

hộ cá nhân, nhưng nguy cơ nhiễm bệnh không phải là ít.

 Lợi ích của phóng xạ rất lớn, nhưng tác hại không phải nhỏ. Bệnh nhiễm phóng xạ cũng

đã có những biểu hiện rõ rệt của nạn nhân hai thành phố Nhật Bản là Hiroxima và Nagaxaki

(Hiroshima và Nagasaki), sau vụ nổ bom nguyên tử. Bệnh nhiễm xạ nghề nghiệp cũng đã xuất

hiện ở những người làm nghề tiếp xúc với phóng xạ. Từ năm 1986, người ta đã thấy tình trạng

viêm da ở bệnh nhân được chụp X quang và ở các thầy thuốc điện quang. Chính nữ bác học

Marie Curie cũng bị những tổn thương ở tay vì trong khi làm việc, bà dùng tay cầm những

mảnh rađi có độ phóng xạ cao.

 Liên bộ Y Tế - Thương binh xã hội và Tổng công đoàn Việt Nam đã ban hành thông tư

quy định một số bệnh nghề nghiệp và chế độ đãi ngộ công nhân viên chức nhà nước mắc bệnh

nghề nghiệp, trong đó có các bệnh do nhiễm tia X và phóng xạ, với các biểu hiện bệnh lý ở

mắt và da, ở xương và phổi.

 Cho đến nay, đã có vài trường hợp nhiễm tia X gặp ở các thầy thuốc điện quang được

đưa ra giám định bệnh nghề nghiệp. Các biểu hiện chủ yếu của máu, với hình ảnh bạch cầu ở

máu tuần hoàn, kéo dài dai dẳng sau nhiều năm, dù đã ngừng tiếp xúc với tia X, và sau nhiều

đợt điều trị điều dưỡng.

 Qua việc điều tra hàng loạt ở những người tiếp xúc với tia phóng xạ hoặc là trong khi

thao tác hay khi thăm dò… cũng đã thấy các biểu hiện về máu. Ở một vài trường hợp, còn gặp

những biến đổi ở thể nhiễm sắc.