Phát triển du lịch bền vững ở Bạc Liêu

Từ FOSS Vietnam - Giáo Dục Môi Trường
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Mục lục

Tổng quan về du lịch bền vững

Thế nào là phát triển du lịch bền vững?

Du lịch bền vững là du lịch mà giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường tự nhiên và cộng đồng địa phương và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi mà nó phụ thuộc vào.

Việc di chuyển và tham quan đến các vùng tự nhiên một cách có trách nhiệm với môi trường để tận hưởng và đánh giá cao tự nhiên (và tất cả những đặc điểm văn hoá kèm theo, có thể là trong quá khứ và cả hiện tại) theo cách khuyến cáo về bảo tồn, có tác động thấp từ du khách và mang lại những lợi ích cho sự tham gia chủ động về kinh tế-xã hội của cộng đồng địa phương. (World Conservation Union,1996)

Ba hợp phần chính của du lịch bền vững

Du lịch bền vững có 3 hợp phần chính, đôi khi được ví như “ba chân” (International Ecotourism Society, 2004)

Thân thiện môi trường

Du lịch bền vững có tác động thấp đến nguồn lợi tự nhiên và khu bảo tồn biển (KBTB) nói riêng. Nó giảm thiểu các tác động đến môi trường (động thực vật, các sinh cảnh sống, nguồn lợi sống, sử dụng năng lượng và ô nhiễm …) và cố gắng có lợi cho môi trường.

Gần gũi về xã hội và văn hoá

Du lịch bền vững không gây hại đến các cấu trúc xã hội hoặc văn hoá của cộng đồng nơi mà chúng được thực hiện. Thay vào đó thì nó lại tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phương. Khuyến khích các bên liên quan (các cá nhân, cộng đồng, nhà điều hành tour, và quản lý chính quyền) trong tất cả các giai đoạn của việc lập kế hoạch, phát triển và giám sát, giáo dục các bên liên quan về vai trò của họ.

Có lợi ích kinh tế

Du lịch bền vững đóng góp về mặt kinh tế cho cộng đồng và tạo ra những thu nhập công bằng và ổn định cho cộng đồng địa phương cũng như càng nhiều bên liên quan khác càng tốt. Nó mang lợi ích cho người chủ, cho nhân viên và cả người xung quanh. Nó không bắt đầu một cách đơn giản để sau đó sụp đổ nhanh do các hoạt động kinh doanh nghèo nàn. Một đơn vị kinh doanh du lịch mà có đủ 3 tiêu chí trên thì “sẽ kinh doanh tốt nhờ làm tốt”. Điều này có nghĩa là việc thực hiện kinh doanh du lịch trong nhiều cách có thể không phá huỷ các nguồn lợi tự nhiên, văn hoá và kinh tế, nhưng cũng khuyến khích đánh giá cao những nguồn lợi mà du lịch phụ thuộc vào. Việc kinh doanh mà được thực hiện dựa trên 3 tiêu chí này có thể tăng cường việc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên, đánh giá cao giá trị văn hoá và mang lợi tức đến cho cộng đồng và có thể cũng sẽ thu lợi tức.

Nhu cầu du lịch như thế nào là du lịch bền vững?

Du lịch bền vững hấp dẫn một số lượng lớn du khách - những người thích “du lịch tự nhiên”, “du lịch mạo hiểm” hoặc “du lịch sinh thái” là những loại hình du lịch tập trung vào việc đánh giá cao các vùng hoang dã, đời sống hoang dã và các giá trị văn hoá địa phương. WTO đánh giá du lịch tự nhiên tạo ra 7% của những tiêu xài về di chuyển quốc tế. Nếu tất cả những di chuyển liên quan đến tự nhiên đều được đưa vào (không chỉ những tour du lịch tự nhiên đặc biệt), thì con số tổng thể về du khách, những người quan tâm đến du lịch tự nhiên có thể lên đến 40-60%. Viện Tài Nguyên Thế Giới cho biết hàng năm trong khi tỷ lệ du lịch đang tăng 4%, thì sự di chuyển tự nhiên tăng từ 10 – 30%. Kể từ khi có một tỷ lệ đáng kể các phương tiện du lịch mới ở các nước đang phát triển – nơi có những vùng có đa dạng sinh học cao, được xây dựng ở những vùng biển và vùng tự nhiên, những dạng tăng trưởng này là mối quan tâm riêng sẽ đe doạ đến các hệ sinh thái.

Lợi tức cho khu bảo tồn

Tài trợ cho các vùng bảo vệ là vấn đề quan tâm chính của các nhà quản lý KBTB. Tài trợ của chính quyền cho các KBTB thường là không đủ cho các nhu cầu về bảo tồn và nhiều vùng tự nhiên quan trọng sẽ không tồn tại nếu không có những lợi tức phụ và mới. Du lịch mang đến những cơ hội để tạo ra các thu nhập theo nhiều cách khác nhau và cho phép các nhà quản lý KBTB bảo vệ tốt hơn các vùng nhạy cảm. Phí vào cổng hoặc phí tham quan của du khách có thể được thu trực tiếp với du khách, những người tham quan KBTB. Phí du khách có thể được thu ngay tại cổng vào KBTB; cho việc sử dụng một số trang thiết bị hoặc một số hoạt động đặc biệt; có thể trên tàu, hoặc có thể cộng thêm vào chi phí của những chuyến dã ngoại hoặc phí sử dụng cho các khách lặn và bơi có ống thở. Nói chung, khách nước ngoài có thể được thu nhiều hơn khách trong nước.

Thuê mướn của các tổ chức tư nhân có thể bao gồm các quầy hàng lưu niệm, việc cho thuê tàu, thức ăn hoặc các tour. Thông thường là do tư nhân đầu tư và quản lý với một tỷ lệ được phân chia về KBTB. KBTB không có quyền đối với các hoạt động (hoặc việc cho thuê mướn) ở trên đất liền, vì thế mà những cam kết về việc chia sẻ lợi nhuận từ các hoạt động trên bờ là rất khó. Về tàu và các nhóm sử dụng như bơi lặn có khí tài, những hoạt động trực tiếp trong KBTB thì việc cam kết thu phí có thể được đảm bảo dễ dàng hơn.

Quyên góp có thể được thu hút để hỗ trợ cho một số chiến dịch đặc biệt, như việc kêu gọi tài trợ cho việc xây dựng trung tâm du khách, một chương trình “chấp nhận một loài” hoặc được thu hút để hỗ trợ một số hoạt động quản lý cơ bản đang được tiến hành. Thời gian tốt nhất để thu hút các hoạt động quyên góp này là ngay sau khi du khách đã hưởng thụ những giá trị tự nhiên độc đáo của KBTB và cảm giác cần đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn biển.

Tạo việc làm

Du khách có thể mang đến những công việc mới cho vùng, đây được xem là lợi ích lớn nhất cho cộng đồng địa phương. Để đáp ứng được nhu cầu của du khách ở bên trong và xung quanh các KBTB, các cư dân địa phương cần phải tìm một số việc như lái taxi, làm chủ các nơi lưu trú, cho thuê mặt bằng và làm hướng dẫn viên tour. Sự tăng số lượng du khách đến tham quan KBTB cũng làm tăng nhu cầu về tuần tra và nhân viên cưỡng chế, các nhà nghiên cứu và giáo dục. Cư dân dịa phương có thể làm tốt một số vị trí cho các công việc liên quan đến du lịch và KBTB, vì họ rất thông thạo với các nguồn lợi văn hoá và tự nhiên của vùng. Tuy nhiên, họ có thể cần những khoá huấn luyện về các kỹ năng như ngôn ngữ và thuyết minh, điều khiển các nhóm, chuẩn bị thức ăn, sơ cấp cứu và bảo dưỡng táu. Du lịch cũng làm tăng lên nhu cầu cho việc tuyển dụng gián tiếp bao gồm các công việc phục vụ, xây dựng và người cung cấp hàng hoá như thức ăn.

Các chính sách

Tiềm năng của du lịch bền vững có thể gây ảnh hưởng các cán bộ chính quyền để đưa ra hiện trạng được bảo vệ cho vùng hoặc tăng cường tình hình bảo vệ cho các vùng bảo vệ, bảo tồn hiện tại nếu nó có thể tạo ra những thu nhập và cung cấp các lợi ích khác cho quốc gia. Và khi các cán bộ chính quyền quan tâm nhiều hơn về tầm quan trọng của việc bảo vệ các vùng tự nhiên, du khách cũng sẽ thăm và hỗ trợ nhiều cho các vùng tự nhiên nếu nó được bảo vệ.

Giáo dục môi trường

Du lịch bền vững cung cấp đối tượng lý tưởng cho giáo dục môi trường. Khi du khách xem các rạn san hô và thú biển, họ muốn tìm hiểu về các tập tính của động vật và sinh thái rạn san hô cũng như những thách thức của công tác bảo tồn những nguồn lợi này. Rất nhiều du khách cũng muốn biết về các vấn đề kinh tế, chính trị và xã hội xung quanh việc bảo tồn. Hướng dẫn viên về tự nhiên đây là nguồn quan trọng cho công tác giáo dục môi trường. Những khảo sát về du khách cho biết rằng hướng dẫn viên tốt là nhân tố quan trọng cho sự thành công của chuyến tham quan.

Ví dụ: vào năm 1996, RARE - Trung tâm bảo tồn nhiệt đới yêu cầu 60 nhóm bảo tồn ở Châu Mỹ La Tinh để xác định ra những cản trở khách quan cấp bách nhất cho việc phát triển du lịch sinh thái (hợp phần quan trọng nhất của du lịch bền vững); sự thiếu hụt về các hướng dẫn viên tự nhiên được đào tạo được xếp thứ 2 trong số những mối quan tâm này. Trung tâm du khách bằng những trang thiết bị được in ấn, trưng bày và những video là những phương tiện rất tốt cho công tác giáo dục môi trường. Những bảng biểu dựng ở các bãi biển có thể truyền đạt những thông tin quan trọng về sinh học và những thông điệp về bảo tồn. Việc thuyết minh cho những du khách đang trở nên sáng tạo và có sự trao đổi 2 bên.

Giáo dục môi trường là cơ hội quan trọng đối với du khách trong nước. Đó có thể là những học sinh phổ thông đang tìm hiểu về nguồn lợi mà có giá trị trong cuộc sống hằng ngày của họ, hoặc những du khách từ những vùng lân cận đang tìm hiểu về ý nghĩa của các vùng bảo tồn quốc gia, những công dân là những đối tượng chính. Các thông điệp bảo tồn có tính cấp thiết đặc biệt cho họ. Du lịch bền vững có thể nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương về các giá trị của KBTB và những nhu cầu về bảo tồn, thông thường kết quả là những nỗ lực về bảo tồn địa phương được tốt hơn như việc hạn chế các rác thải. Nhận thức được tăng lên ở phạm vi quốc gia cũng có kết quả rất lớn trong việc cải thiện các nỗ lực bảo tồn như việc trao quyền và hỗ trợ các KBTB. Ở phạm vi quốc tế, du lịch bền vững có thể tạo ra những phối hợp quốc tế cho việc cải thiện các nỗ lực bảo tồn và hỗ trợ cho các KBTB nhất định.

Giáo dục môi trường cho các du khách có hiêu quả nhất khi các thông tin trước và sau chuyến đi được trang bị đầy đủ. Việc chuẩn bị này sẽ khuyến khích du khách suy nghĩ về những ứng xử phù hợp để giảm thiểu các tác động tiêu cực và tiếp tục sử dụng các trang thiết bị này cho quá trình giáo dục môi trường.

Những đe doạ từ những du khách đến KBTB

Tác động môi trường

Việc sử dụng quá nhiều và không phù hợp của du khách có thể giẫm đạp lên các sinh cảnh sống ở vùng triều, rừng ngập mặn hoặc các thảm cỏ biển; xáo trộn đời sống hoang dã như chim biển hoặc thú biển; phá huỷ các rạn san hô từ các chân nhái của các du khách bơi lặn; và tác động đến chất lượng nước từ việc tăng lên các nguồn nước thải hoặc chất thải lơ lững trong nước biển và ở các vùng ven biển. Bên cạnh những tác động trực tiếp của địa phương, những tác động này có thể gây ra những thay đổi hoặc những vấn đề mà cần một quãng thời gian dài mới có thể giải quyết như việc thay đổi các tập tính của động vật như tập tính bắt mồi, di cư hay sinh sản. Có rất nhiều thay đổi rất khó để phát hiện, nhưng tất cả đều là những chỉ số quan trọng về mức độ lành mạnh của các nguồn lợi tự nhiên.

Sự không ổn định về kinh tế

Có thể cộng đồng địa phương không thu nhận được những lợi tức từ du lịch, những lợi tức đó có thể rơi vào hầu bao của các nhà đầu tư bên ngoài. Hiện tượng này được gọi là “rò rỉ” lợi tức. Nếu sự rò rỉ này là cao thì sẽ có rất ít sự hỗ trợ của cộng đồng địa phương, cho KBTB hoặc công tác bảo tồn biển. Cho dù một số cư dân có thể tạo ra được những lợi tức từ du lịch, nếu những lợi tức cho cộng đồng là thấp hoặc không liên kết một cách đầy đủ với những nỗ lực bảo tồn thì cư dân địa phương có thể tái đầu tư những nguồn tài chính này vào các hoạt động có tác động cao hơn để có lợi nhuận kinh tế cao hơn, như: khái thác phi pháp và nuôi trồng không đúng quy định. Đối với những người có được việc làm ổn định từ du lịch, nhưng nếu những công việc này không giúp cho việc quản lý hoặc không có cơ hội sở hữu, những nhân công địa phương sẽ không thích thú để cam kết với du lịch bền vững một cách lâu dài.

Thêm vào đó, du lịch bền vững cũng như các loại hình khác của du lịch, có thể là những nguồn thu nhập không ổn định. Nhu cầu du lịch dao động với nhiều yếu tố bên ngoài mà nằm ngoài khả năng điều khiển của những vùng du lịch. Ví dụ: các mâu thuẫn về chính trị, hoặc những truyền miệng về các điều kiện không an toàn ở trong vùng hoặc quốc gia đó có thể sẽ làm giảm số lượng du khách trong nhiều năm. Những thay đổi về tiền tệ cũng có thể tác động đến việc di chuyển của du khách.

Một ví dụ khác là ở Vườn Quốc gia Komodo ở Indonesia, số lượng du khách đã giảm từ 30.000 lượt mỗi năm xuống còn 11.000 tại các khu vực nổ bom gần Bali, đây là nơi mà trước đây có nhiều du khách nước ngoài đến thăm. Các thiên tai như sóng thần 2004 có thể tác động đến du lịch trong nhiều năm, đặc biệt là các khách sạn nằm dọc bãi biển và mạng lưới giao thông đã bị tàn phá nghiêm trọng. Sự giảm về sốlượng du khách không thể dự đoán được này có thể là điều bất hạnh nếu KBTB phụ thuộc quá lớn vào những ngành du lịch này.

Nói cách khác Du lịch bền vững nên được khuyến khích, nhưng không phụ thuộc vào nó như là nguồn lợi tức và tuyển dụng nhân công duy nhất.

Các vấn đề tiêu cực có thể phát sinh

Cảm giác đông đúc có thể là vấn đề cho cả cộng đồng địa phương và KBTB. Có nhiều cộng đồng địa phương có thể tự tìm cách chuyển các sử dụng truyền thống ở các vùng biển cho du lịch, bao gồm việc phát triển cơ sở hạ tầng như đường xá, khách sạn, nhà hàng, cầu cảng. Du khách có thể bắt đầu cạnh tranh với cư dân địa phương để giành những vùng mở còn lại. Có nhiều vùng mà cộng đồng địa phương gắn liền trong suốt thời gian sinh trưởng, trước khi chúng trở thành những điểm thu hút quốc tế. Nếu việc tiếp cận đến những điểm quý giá này trở nên khó khăn, sự căng thẳng thường tăng lên và cộng đồng địa phương có thể bắt đầu phẫn nộ với du khách. Sự đông đúc có thể cũng là sự phiền toái cho chính du khách, nhiều người trong số họ muốn tìm những chuyến tham quan đến những vùng yên lặng. Du khách quốc tế có thể bị thất vọng để phải di chuyển đến một nơi rất xa và tiêu tốn một khoản tiền lớn được tiết kiệm trong nhiều năm để rồi bị lấn át bởi những du khách khác.

Sự phát triển quá mức

Khi vùng địa phương trở thành điểm đến phổ biến cho du khách, các doanh nghiệp địa phương sẽ xây dựng những nhà nghỉ, khách sạn và những dịch vụ khác để cung cấp những nhu cầu của du khách. Trong một số trường hợp ở đâu mà nhu cầu của du khách rất lớn, thì nhiều người từ những nơi khác cũng đến vùng này để chớp lấy những cơ hội đầu tư kinh tế. Cùng với những nhu cầu tăng cao của du khách thì những nhu cầu về cơ sở hạ tầng cũng được tăng lên như: khách sạn, nhà hàng và nhiều nhà trọ cho các nhân viên và chủ đầu tư từ nơi xa đến. Những nhu cầu này tạo nên những áp lực cho các dịch vụ cơ bản như nhu cầu về nước, xử lý rác thải, điện…Thêm vào những gánh nặng cho các dịch vụ cộng đồng là sự phát triển tăng nhanh xảy ra ở những nơi việc lập kế hoạch còn kém và có thể gây nên các vấn đề về mỹ quan cũng như các vấn đề về sinh thái cho cả cộng đồng và KBTB.

Vai trò các bên liên quan trong việc phát triển du lịch bền vững

Vai trò của chính quyền và cộng đồng địa phương

Mặc dù du lịch có thể được điều khiển bởi khu vực tư nhân, các công cụ chính trị chính quyền như việc đòi hỏi những đánh giá tác động môi trường (EIAs) và các kế hoạch quản lý, mà có thể có hiệu quả một cách đặc biệt để đảm bảo rằng việc phát triển được thực hiện phù hợp. Ở nhiều quốc gia có một số điểm đa dạng sinh học cao, các điểm du lịch bị ảnh hưởng của nhiều bên chính quyền khác nhau, những bên liên quan này được quản lý bao gồm di sản lịch sử, văn hoá, các vườn quốc gia, vùng bảo vệ biển, phát triển kinh tế, quản lý thuỷ sản và rừng. Sự điều phối suôn sẻ của các sở này và tính chặt chẽ giữa chính sách du lịch và các chính sách khác của chính quyền bao gồm cả bảo tồn đa dạng sinh học thường không theo một quy định, vì thế các chính sách khác nhau có thể phá hoại nhau nhiều hơn là hỗ trợ lẫn nhau.

Chính quyền quốc gia thường hình thành một sơ đồ cho việc phát triển du lịch và bảo tồn đa dạng sinh học thông qua các chính sách và luật. Một số ví dụ bao gồm: • Luật và quy chế xác định các tiêu chuẩn cho các phương tiện du lịch, tiếp cận với các nguồn lợi đa dạng sinh học và quy chế sử dụng đất, phân vùng. Điều này có thể đòi hỏi những hiện trạng về tác động môi trường (EIS’s) trước khi phát triển. • Cơ sở hạ tầng: thiết kế, phát triển và quy chế (nước, năng lượng, đường, sân bay…) • Công cụ kinh tế được xác định trong các chính sách, ví dụ như: những động cơ cho việc đầu tư du lịch bền vững và việc tạo ra các khu bảo vệ tư nhân. • Tiêu chuẩn về sự lành mạnh và độ an toàn, bao gồm những quản lý chất lượng và quy chế các hoạt động kinh doanh; mục đích là bảo vệ người tiêu dùng và thoả mãn những nhu cầu của cư dân – bao gồm các cộng đồng truyền thống và người bản xứ - và bảo vệ cách sống của họ. • Hình thành và duy trì các khu bảo vệ và các hành lang bảo tồn của các mối quan tâm về du lịch. Các nhà quản lý của các khu bảo vệ công cộng thường là những người thực hiện hiệu qủa nhất cho những lợi ích bảo tồn từ việc phát triển du lịch. • Phân chia các lợi tức thuế cho việc bảo vệ các điểm thu hút du lịch dựa trên đa dạng sinh học như các Công viên Quốc gia và các khu Bảo tồn. Tại điểm du lịch, chính quyền địa phương thường chịu trách nhiệm thực hiện chính sách liên quan đến du lịch và công tác bảo tồn. Chính quyền địa phương iosng vai trò tốt để đàm phán giữa các mối quan tâm của địa phương và các đơn vị kinh doanh từ bên ngoài, xã hội và các cơ quan trung ương, và họ nắm giữ quyền điều chỉnh cần thiết và uỷ nhiệm phân vùng mà cho phép thực hiện cưỡng chế theo các hướng dẫn và tiêu chuẩn. Mặt khác, năng lực của chính quyền địa phương để quản lý ngành phức tạp và rời rạc này một cách hiệu quả cũng như đảm bảo những đóng góp tích cực của nó đến các chiến lược của cộng đồng cho việc phát triển bền vững là còn phụ thuộc vào việc soạn thảo các chính sách địa phương phải gắn kết với các công cụ và các cơ quan luật quốc gia.

Ở nhiều nước đang phát triển, chính quyền có thể đóng vai trò trực tiếp của nhà điều hành du lịch và quản lý khách sạn để có thể khởi động các tiêu chuẩn chất lượng hoặc tạo ra lợi tức. Ví dụ: Suriname có nhà điều hành du lịch là chính quyền (METS) và cùng có những nhà điều hành du lịch cấp tỉnh tương tự như ở Trung Quốc và Việt Nam.

Vai trò của ngành du lịch

Du lịch là một ngành rất lớn. Nó được xem là ngành lớn nhất trên thế giới. Nó bao gồm một số lượng khổng lồ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, và gồm cả những tập đoàn đa quốc gia rất lớn mà điều khiển sự tăng lên tỷ lệ phần trăm của cả thị trường.

Sự thành công sẽ cao hơn nếu ngành du lịch là một phần của quá trình này ngay từ lúc bắt đầu. Vì thế các nhà điều hành du lịch nên được xem xét như là những bên liên quan chính, là người quan trọng cho sự thành công của cả dự án. Kinh nghiệm của nhà điều hành du lịch tư nhân hoặc những nhà phát triển tour là rất có giá trị và có thể cung cấp những thông tin quan trọng như: • Thông tin về thị trường tiềm năng • Tư vấn những ý thích của các du khách về các điểm thu hút, nơi lưu trú, thức ăn và giao thông • Thị trường • Cung cấp các dịch vụ để hướng dẫn du khách tiếp cận và đánh giá cao điểm du lịch • Huấn luyện các hướng dẫn viên và doanh nghiệp địa phương • Đầu tư vào việc điều hành du lịch bền vững địa phương • Điều hành các điều hành du lịch bền vững

Vai trò của du khách

Du khách là người tham gia cuối cùng trong việc đưa du lịch bền vững vào thực tiễn. Nếu du khách không chọn để đến thăm KBTB, hoặc không sẵn lòng trả phí để hỗ trợ cho du lịch bền vững, thì dự án này bị thất bại. Việc thu hút du khách đến với du lịch bền vững ở KBTB thông thường bao gồm 2 yếu tố.

Giới thiệu với du khách về sự tồn tại của KBTB và những điểm thu hút của nó.

Điều này thể hiện kinh nghiệm thị trường của các nhà điều hành tour là rất quan trọng. Việc đưa các KBTB vào trong sách hướng dẫn chính cho du khách như Lonely Planet, Rough Guide,... là rất hữu ích. Những quyến sách hướng dẫn này có thể giúp thu hút những khách du lịch tự do (những người không đi theo các tour đã lập kế hoạch trước) đến các KBTB.

Khuyến khích các du khách bảo trợ cho du lịch bền vững hơn du lịch đại chúng

Du khách có thể sẽ sẵn lòng trả phí để tham quan những điểm được xem là bền vững hơn là tham dự những hoạt động du lịch tương tự ở một số nơi khác nhưng không thân thiện với môi trường. Điều may mắn là, các cuộc khảo sát du khách chỉ ra rằng, nhìn chung, dù du khách muốn nghỉ ngơi vào những kỳ nghỉ nhưng họ lại không muốn thực hiện nó mà lại không ảnh hưởng đến người dân địa phương và môi trường của họ. Như chúng ta biết trong ngày hôm qua, một số cuộc khảo sát ở Châu Âu xác định rằng du khách sẵn sàng trả thêm 5% chi phí (so với chi tiêu của cả hành trình) cho những chi phí phụ thêm như phí vào cửa KBTB, nếu họ biết những khoản tiền này sẽ hỗ trợ môi trường và cộng đồng địa phương. Tuy nhiên, du khách, cũng giống như bao nhiêu người khác, bị giới hạn về tài chính và họ sẽ không trở lại những vùng mà các khoản phí này là quá cao Các sách hướng dẫn du lịch, tạp chí và báo chí có thể có những đóng góp lớn trong việc nâng cao nhận thức cho du khách về các vấn đề quan trọng mà ngành du lịch đang đối mặt và giúp khuyến khích thay đổi nhu cầu.

Ví dụ: Tạp chí National Geographic Traveler thường xuyên nhấn mạnh các vấn đề du lịch bền vững và giới thiệu các công ty du lịch mà dẫn đầu việc thực hiện các hoạt động du lịch bền vững. Tạp chí Audubon phát triển mã số hướng dẫn “bước đi nhẹ nhàng” (“Tread Lightly”) cho du lịch đến các vùng tự nhiên. Việc tìm đến một số mãng thị trường riêng biệt của du khách gồm những người quan tâm đến du lịch bền vững thì có nhiều lợi ích hơn là việc quảng cáo tràn lan ở thị trường tự do.

Tiềm năng phát triển du lịch bền vững ở Bạc Liêu

Tiềm năng du lịch tự nhiên

Từ xưa, Bạc Liêu nổi tiếng là vùng đất trù phú, phì nhiêu, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, du lịch. Với 156 km bờ biển và các cửa biển quan trọng như Gành Hào, Nhà Mát, Cái Cùng, Vĩnh Hậu; đường giao thông thủy bộ đều thuận lợi nên bạc Liêu còn là nơi trung chuyển lưu thông hàng hóa của các cơ sở kinh tế trong và ngoài tỉnh, có tiềm năng phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và du lịch nên được chính quyền tỉnh quan tâm đầu tư xây dựng.

Những dự án về phát triển du lịch như: xây dựng khu du lịch sinh thái Nhà Mát - Hiệp Thành, Gành Hào; cải tạo cụm nhà công tử Bạc Liêu đưa vào khai thác du lịch; trùng tu nâng cấp các di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật... trong tương lai sẽ thu hút du khách đến Bạc Liêu ngày một nhiều hơn. Cách thị xã Bạc Liêu 6km về hướng Biển, trên con đường mang tên cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, về phía phải, sang kênh 30 tháng 4 là đến Vườn Chim Bạc Liêu, thuộc địa phận xã Hiệp Thành, thị xã Bạc Liêu. Theo tư liệu của khu bảo tồn thiên nhiên Vườn Chim Bạc Liêu, địa danh này xuất hiện cách nay khoảng 100 năm.

Với hệ sinh thái rừng ngập mặn tự nhiên trên diện tích khoảng 385 ha, trong đó có 19 ha rừng nguyên sinh. Vườn chim Bạc Liêu là nơi cư trú của khoảng 46 loài chim, trong đó có một loài chim được ghi vào sách Đỏ như Giang Sen, Cốc Đế nhỏ…, 109 loài thực vật thuộc 90 chi của 46 họ: 150 loài động vật, trong đó có 58 loài cá, 7 loài ếch nhái, 10 loài có vú, 8 loài bò sát và một số động vật khác cùng sống chung trong một quần thể đa dạng, thể hiện cao tính đa dạng sinh học rất cần được bảo tồn và phát triển.

Tại Bạc Liêu có khu vườn nhãn cổ đến nay đã trên trăm tuổi. Đây là vườn nhãn đặc biệt nhất ở ĐBSCL, là niềm tự hào của người dân địa phương và còn là điểm thu hút khách phương xa đến tham quan. Vườn nhãn cổ Bạc Liêu rộng khoảng 230 ha, chạy dài trên 11km đi qua 2 xã Hiệp Thành và Vĩnh Trạch Đông, thuộc thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Tiềm năng du lịch nhân văn

Khu nhà cổ tọa lạc ở 13 Điện Biên Phủ, phường 3, thị xã Bạc Liêu là nơi gia đình ông Trần Trinh Huy - công tử Bạc Liêu - trú ngụ, nay đã trở thành khách sạn Công Tử Bạc Liêu với 6 phòng ngủ. 5 phòng bình thường có giá 250.000 đồng/đêm, riêng phòng công tử từng ở trước đây có giá gấp đôi. "Phòng công tử" có 1 giường đôi, ti vi, máy lạnh, 1 bàn viết, 1 tủ áo và toilet khá rộng kế bên. Di tích Đồng Nọc Nạng là di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích lịch sử - văn hóa, di tích này nằm ở ấp 4, xã Phong Thạnh, huyện Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu ngày nay. Di tích này là nơi diễn ra cuộc đấu tranh anh dũng của nông dân để bảo vệ ruộng đất của mình trước sự cướp bóc của bọn địa chủ cường hào dựa vào thế lực của bọn thực dân Pháp Ngày 3/9/1969 toàn thể nhân dân Việt Nam bị bao trùm trong buồn đau không kìm được nước mắt vì nhận được tin vị lãnh tụ kính yêu Hồ Chí Minh đã từ trần. Hồ Chủ tịch mất đi là một tổn thất vô cùng lớn lao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc Việt Nam và cả nhân loại tiến bộ trên Thế giới. Cách thị xã Bạc Liêu 7km về hướng Đông Nam, chùa Xiêm Cán là ngôi chùa của người Khơ-me lớn nhất và đẹp nhất trong vùng. Chùa được xây dựng hồi thế kỉ 19 với kiến trúc độc đáo. Cách thị xã Bạc Liêu 7km về hướng Đông Nam, chùa Xiêm Cán là ngôi chùa của người Khơ-me lớn nhất và đẹp nhất trong vùng. Chùa được xây dựng hồi thế kỉ 19 với kiến trúc độc đáo vào khoảng năm 1810, bàn thờ chính là thờ Ông Bổn - Một vị thần được coi là có công khai hoang đất đai và phù trợ cho mọi người sinh cơ lập nghiệp có cuộc sống an lành. Về quê hương của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu, ai cũng muốn một lần lắng nghe “Dạ Cổ Hoài Lang”, để nhớ lại cái thuở mới sơ khai của điệu Vọng cổ và sắc màu của làn điệu Phương Nam. Nếu đã có lần về thăm Bạc Liêu, bạn hãy một lần nghe qua đờn ca tài tử nơi vùng sông nước này. Vào những dịp lễ hội lớn như lễ Ok Om bok, lễ Chol Chnam Thmay, lễ Đôn Ta, không khí chùa thật rộn ràng. Ngày nay, người ta cảm nhận một sắc thái văn hóa đang phồn thịnh và rất đặc trưng của người Khơ—me đang từng ngày được gìn giữ, phát huy nhằm làm đẹp hơn, phong phú và đa dạng hơn cho văn hóa Việt Nam.

Điều kiện kinh tế xã hội

Nguồn lao động

Khu vực III có gia tăng về tỷ trọng lao động, song chưa nhiều. Trong khu vực dịch vụ này, số lao động hoạt động trong hệ thống nhà hàng, khách sạn tăng đáng kể, từ 8,2% năm 2001 lên 13% vào năm 2005. Một số ngành khác cũng có thay đổi, có gia tăng về tỷ trọng lao động như : hoạt động kinh doanh tài sản, dịch vụ tư vấn, dịch vụ y tế và hoạt động cứu trợ xã hội, giáo dục và đào tạo, hoạt động khoa học và công nghệ v.v…

Thị trường du lịch

Du khách quan tâm đến du lịch bền vững thường đến từ đâu? Du khách thể hiện mối quan tâm lớn đến sự bền vững và di chuyển dựa vào tự nhiên chủ yếu đến từ các nước sau: Hoa Kỳ, Anh Quốc, Đức, Australia, Pháp, Thuỵ Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Nauy, Áo, Canada, New Zealand. Những nước này đã đóng góp gần ¼ số du khách đến các vùng đất của khu vực Đông Nam Á và tỷ lệ này đang tăng lên. Từ 1995, sự tăng trưởng từ những nước này đã thúc đẩy tỷ lệ tăng trưởng tổng thể về số lượng du khách trong vùng. Trong số 12 quốc gia này, Hoa Kỳ, Anh Quốc, Đức, Australia và Pháp. Chiếm tỷ lệ cao nhất trong số du khách đến các vùng đất của Đông Nam Á. Vì thế, đây là cơ hội lớn cho Đông Nam Á xây dựng ngành du lịch dựa vào tự nhiên. Chú ý là trên 60% du khách từ 12 nước này đều có thể nói tiếng Anh, nên nhu cầu về các hướng dẫn viên và các nhà điều hành tour biết nói tiếng Anh cũng đang được tăng lên.

Cơ sở vật chất - cơ sở hạ tầng

Dù Bạc Liêu có nhiều tiềm năng phát triển du lịch nhưng thực tế hiện nay, cơ sở hạ tầng du lịch, các điểm vui chơi giải trí còn nghèo nàn. Thống kê của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bạc Liêu cho thấy, toàn tỉnh hiện có 22 khách sạn, với 550 phòng, 762 giường, trong đó chỉ có 01 khách sạn 3 sao, 02 khách sạn 2 sao, số còn lại là 1 sao và đạt chuẩn. Các điểm du lịch như biển Nhà Mát, vườn nhãn Bạc Liêu hay điểm thu hút du khách đông đúc như Quán âm Nam Hải vẫn chưa có nhiều dịch vụ phục vụ du khách đến tham quan. Ông Trần Minh Huấn, Phó giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bạc Liêu cho biết: “Du lịch Bạc Liêu phát triển chậm, còn nhiều việc phải làm, cả về hạ tầng, loại hình du lịch, dịch vụ du lịch và văn minh du lịch. Tiềm năng lớn nhưng thiếu sự đầu tư nên chưa có nhiều cơ sở đủ chuẩn, hấp dẫn du khách. Loại hình du lịch còn chưa phát triển tương xứng với yêu cầu về du lịch văn hoá, du lịch sinh thái, sông nước, du lịch miệt vườn. Hoạt động du lịch còn rời rạc, chưa tạo được tour, tuyến trong tỉnh và với các địa phương trong khu vực, trong cả nước và nước ngoài. Lượng khách đến hàng năm ngày càng tăng nhưng thời gian lưu trú không nhiều, chủ yếu là do dịch vụ phục vụ chậm phát triển, hệ thống nhà hàng khách sạn chưa đáp ứng yêu cầu…”. Bạc Liêu đang mời gọi các nhà đầu tư - đầu tư vào du lịch. Trong đó, phải kể đến các dự án: Cụm nhà công tử Bạc Liêu; Khu du lịch văn hoá và resort nghỉ dưỡng Nhà Mát; du lịch sinh thái ven biển Nhà Mát đến thị trấn Gành Hào; du lịch cửa biển Gành Hào; Khu du lịch sinh thái vườn cò Phước Long; Khu du lịch sinh thái vườn chim Lập Điền; Khu dịch vụ du lịch nhà thờ Tắc Sậy…

Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển du lịch, Nghị quyết số 02-NQ/TU của Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu lần thư XIV “Về đẩy mạnh phát triển du lịch” nêu rõ: “Ban hành các chính sách, cơ chế phù hợp, tạo môi trường thông thoáng về thủ tục đầu tư để kêu gọi vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài vào các dự án du lịch và phát triển hạ tầng, dịch vụ du lịch; Hỗ trợ các doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện quy trình, thủ tục đầu tư đơn giản, nhanh chóng hiệu quả; Khuyến khích và khen thưởng các thành phần kinh tế mạnh dạn đầu tư xây dựng các cơ sở du lịch, dịch vụ du lịch, những mô hình, sản phẩm du lịch có chất lượng cao, có hiệu quả…”.

Những chính sách thông thoáng mời gọi đầu tư phát triển du lịch của Bạc Liêu - đã và đang được nhiều nhà đầu tư quan tâm đến. Nhiều dự án đầu tư du lịch với quy mô lớn đang được triển khai xây dựng: Cao ốc thương mại - du lịch Bạc Liêu Tower 18 tầng, do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đầu tư; Khu du lịch sinh thái Hồ Nam, do Công ty TNHH Vĩnh Thịnh (TP. HCM) đầu tư; Vườn chim Bạc Liêu, do Tập đoàn Fideco liên kết với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu đầu tư khai thác phục vụ du khách…

Chính sách phát triển

Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2010 và tầm nhìn 2020: “ Mục tiêu tổng quát: Khai thác và sử dụng tốt mọi nguồn lực trong tỉnh, kết hợp với tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài nhằm thực hiện các mục tiêu đặt ra về tăng trưởng kinh tế. Kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, sớm đưa Bạc Liêu trở thành một trong những tỉnh dẫn đầu đồng bằng Song Cửu Long về phát triển kinh tế, có cơ cấu Công nghiệp-Dịch vụ-Nông, Ngư nghiệp tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện, … cùng cả nước thực hiện mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào những năm 2020. Mục tiêu về kinh tế: + Phấn đấu đạt GDP bình quân đầu người đến năm 2010 gấp 2,2-2,3 lần năm 2000 và năm 2020 gấp 1,8 đến 2 lần năm 2010. Nhanh chóng nâng cao tỷ trọng trong GDP của giá trị gia tăng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ lên khoảng 68-70% vào năm 2010 và 75-80% vào năm 2020… Phấn đấu đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ và thị trường khu vực nhằm đạt mức tăng bình quân năm kim ngạch xuất khẩu 25-28%, tương đương với mức bình quân cả nước. + Cải thiện cân đối ngân sách bằng cách kết hợp nuôi dưỡng nguồn thu và chống thất thu, nâng cao tỷ lệ tích luỹ nội bộ … lên trên 30% so với GDP trong những năm 2010-2020.

Thực trạng

Thuận lợi

Bạc Liêu là một trong những đô thị lâu đời của miền Tây Nam Bộ có những nét độc đáo về văn hóa - xã hội được nhiều nơi biết đến, nhất là các giai thoại về công tử Bạc Liêu, nhiều công trình nhà ở, đình chùa mang kiến trúc cổ, cụm nhà Công tử Bạc Liêu, đồng hồ đá; là nơi sản sinh bài Dạ cổ Hoài lang, tiền thân của vọng cổ ngày nay; có sân chim, vườn nhãn, có 56 km bờ biển, có 700 ha rừng ngập mặn với nhiều loài sinh vật sống ven biển và dưới tán rừng; có nền văn hóa đặc trưng của sự giao thoa 03 dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer... Với những đặc điểm trên, Bạc Liêu là một trong những địa phương có tiềm năng du lịch phong phú và hấp dẫn du khách.Việc đầu tư khai thác tiềm năng để du lịch Bạc Liêu phát triển mạnh sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Từ khi tỉnh Bạc Liêu được tái lập ngành du lịch được chú ý đầu tư và đã có bước phát triển nhất định. Một số dự án du lịch đang được xây dựng, bước đầu đã hình thành được một số cơ sở du lịch; thu hút được du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan du lịch đã mang lại giá trị doanh thu cho ngành dịch vụ - du lịch chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế của tỉnh Bạc Liêu.

Mặc dù còn không ít khó khăn do chưa khai thác hết tiềm năng thế mạnh này nhưng ngành du lịch Bạc Liêu trong thời gian qua có những bước phát triển đáng ghi nhận. Số liệu thống kê của tỉnh cho thấy, nếu như năm 2007, Bạc Liêu đón được 220.000 lượt khách và doanh thu đạt 240 tỷ đồng thì đến năm 2008, doanh thu đạt 300 tỷ đồng, tăng 16,7% và số lượt khách đến Bạc Liêu là 280.000 tăng 27,2% so với năm 2007, trong đó khách quốc tế khoảng 8.000 và 85.000 lượt khách sử dụng dịch vụ lưu trú. Cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch cũng từng bước được đầu tư phát triển, nhiều dự án du lịch đã và đang được triển khai.

Khó khăn

Ngoài những tiềm năng du lịch của tỉnh và thành phố Bạc Liêu phong phú, nhưng thiếu sự đầu tư đúng mức của Nhà nước và nhân dân, nên chưa có nhiều cơ sở đủ chuẩn, hấp dẫn du khách. Loại hình du lịch còn nghèo nàn, cả về du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, sông nước, du lịch vườn. Hoạt động du lịch còn tự phát, rời rạc, chưa tạo được tour, tuyến trong thành phố và giữa thành phố với các huyện trong và ngoài tỉnh. Tính văn minh trong phục vụ khách, tính chuyên nghiệp trong tổ chức các hoạt động du lịch còn hạn chế. Lượng khách đến đông, nhưng thời gian lưu trú không nhiều, chủ yếu là do dịch vụ phục vụ du lịch chậm phát triển, hệ thống nhà hàng, khách sạn chưa đáp ứng yêu cầu.

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các sản phẩm lưu niệm và tiêu dùng phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách đơn điệu, ẩm thực chưa được đầu tư đúng mức, sản phẩm quà lưu niệm phục vụ du lịch còn đơn điệu, đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên chưa mang tính chuyên nghiệp. Việc huy động các thành phần kinh tế, cán bộ và nhân dân trong công tác xã hội hoá để phát triển du lịch chưa được quan tâm đúng mức…

Giải pháp

Để thúc đẩy hoạt động du lịch tiếp tục phát triển bền vững  phát triển bền vững, ngành du lịch của tỉnh đã tập trung khai thác những giá trị độc đáo của các điểm du lịch trong tỉnh, tạo cho du lịch Bạc Liêu có những điểm nhấn để thu hút khách và phát triển bền vững.

Theo đó, Bạc Liêu tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, xây dựng tour, tuyến hợp lý; đầu tư cơ sở hạ tầng cho các dự án khu, điểm du lịch trọng điểm để du lịch Bạc Liêu tạo đà bứt phá. Cụ thể tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng Khu du lịch Nhà Mát với quy mô gần 100ha. Ngoài ra còn có một số dự án phát triển du lịch sinh thái như dự án phát triển khu du lịch sinh thái ven biển có quy mô 80ha; khu du lịch vườn chim Bạc Liêu; khu du lịch Vườn Nhãn; dự án xây dựng khách sạn, nhà hàng…

Vốn được coi là chiếc nôi của du lịch văn hóa nên bên cạnh việc phát triển du lịch sinh thái thì việc phát triển du lịch văn hóa cũng được tỉnh Bạc Liêu chú trọng để khai thác. Bên cạnh việc tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, ngành du lịch tỉnh còn tập trung khai thác các điểm nhấn văn hóa mang sắc thái riêng của Bạc Liêu như: bản Dạ cổ hoài lang gắn với khu lưu niệm cố nhạc sỹ Cao Văn Lầu; các khu du lịch tâm linh gắn với chùa chiền; tháp cổ Vĩnh Hưng gắn với nền văn hóa Óc Eo; phát triển các câu lạc bộ đờn ca tài tử để phục vụ khách du lịch tại các khu di tích; tổ chức các lễ hội truyền thống địa phương.

Với những nỗ lực rất lớn của ngành du lịch Bạc Liêu, hy vọng du lịch Bạc Liêu ngày càng khởi sắc, thu hút khách du lịch đến với Bạc Liêu nhiều hơn góp phần thúc đẩy du lịch Bạc Liêu phát triển mạnh mẽ hơn, đóng góp vào thu nhập kinh tế-xã hội của tỉnh.

Nhiều năm qua, hoạt động du lịch của tỉnh cũng đã được các ngành, các cấp và người dân quan tâm và có sự đầu tư đáng kể. Một số dự án du lịch được xây dựng, các cơ sở du lịch không ngừng tăng thêm, du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan ngày càng nhiều và nguồn thu từ du lịch ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Tuy nhiên, du lịch trên địa bàn tỉnh nhà vẫn còn chậm phát triển, thiếu sự đầu tư về cơ sở vật chất cũng như các hoạt động dịch vụ nên chưa có nhiều cơ sở đạt tiêu chuẩn để thu hút du khách; hoạt động du lịch lữ hành còn hạn chế, chưa tạo được tour, tuyến trong thị xã và các huyện trong tỉnh; sản phẩm quà lưu niệm phục vụ du lịch còn đơn điệu, đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên chưa mang tính chuyên nghiệp. Việc huy động các thành phần kinh tế, cán bộ và nhân dân trong công tác xã hội hoá để phát triển du lịch chưa được quan tâm đúng mức…</span>Để thúc đẩy hoạt động du lịch tiếp tục phát triển bền vững - phát triển bền vững, ngành du lịch của tỉnh đã tập trung khai thác những giá trị độc đáo của các điểm du lịch trong tỉnh, tạo cho du lịch Bạc Liêu có những điểm nhấn để thu hút khách và phát triển bền vững. =

Theo đó, Bạc Liêu tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, xây dựng tour, tuyến hợp lý; đầu tư cơ sở hạ tầng cho các dự án khu, điểm du lịch trọng điểm để du lịch Bạc Liêu tạo đà bứt phá. Cụ thể tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng Khu du lịch Nhà Mát với quy mô gần 100ha. Ngoài ra còn có một số dự án phát triển du lịch sinh thái như dự án phát triển khu du lịch sinh thái ven biển có quy mô 80ha; khu du lịch vườn chim Bạc Liêu; khu du lịch Vườn Nhãn; dự án xây dựng khách sạn, nhà hàng…

Vốn được coi là chiếc nôi của du lịch văn hóa nên bên cạnh việc phát triển du lịch sinh thái thì việc phát triển du lịch văn hóa cũng được tỉnh Bạc Liêu chú trọng để khai thác. Bên cạnh việc tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, ngành du lịch tỉnh còn tập trung khai thác các điểm nhấn văn hóa mang sắc thái riêng của Bạc Liêu như: bản Dạ cổ hoài lang gắn với khu lưu niệm cố nhạc sỹ Cao Văn Lầu; các khu du lịch tâm linh gắn với chùa chiền; tháp cổ Vĩnh Hưng gắn với nền văn hóa Óc Eo; phát triển các câu lạc bộ đờn ca tài tử để phục vụ khách du lịch tại các khu di tích; tổ chức các lễ hội truyền thống địa phương.

Với những nỗ lực rất lớn của ngành du lịch Bạc Liêu, hy vọng du lịch Bạc Liêu ngày càng khởi sắc, thu hút khách du lịch đến với Bạc Liêu nhiều hơn góp phần thúc đẩy du lịch Bạc Liêu phát triển mạnh mẽ hơn, đóng góp vào thu nhập kinh tế-xã hội của tỉnh.

Ý kiến đề xuất giúp hoạt động du lịch ở tỉnh Bạc Liêu ngày càng phát triển

Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển du lịch Bạc Liêu - vùng đất đang sở hữu những tiềm năng du lịch lớn và có tính đặc thù so với cả nước. Tổ chức triển khai điều tra, khảo sát, thống kê, đánh giá, phân tích, tổng hợp… tiềm năng du lịch của tỉnh về văn hóa, lịch sử, con người Tây Nam Bộ, lễ hội truyền thống, danh thắng, các điểm đến, tour, tuyến, sản phẩm du lịch đặc thù …Trên cơ sở đó, xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Bạc Liêu.

Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho vùng Bạc Liêu cả về cán bộ quản lý và lao động trực tiếp bằng nhiều hình thức, chương trình phù hợp, đáp ứng yêu cầu về các nghiệp vụ trong ngành du lịch, không ngừng nâng cao tay nghề và tính chuyên nghiệp trong hoạt động du lịch. Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù, có sức thu hút cao, đa dạng, phong phú ở từng địa phương và liên kết cả vùng, không trùng lắp. Không ngừng nâng cao, cải tiến chất lượng sản phẩm du lịch. Nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch ở các điểm đến, tour, tuyến, cơ sở lưu trú, nhà hàng, nơi mua sắm... tạo ấn tượng tốt cho du khách. Xây dựng các tour, tuyến du lịch hấp dẫn, khoa học trong từng địa phương và liên tỉnh với lộ trình hợp lý Đầu tư, nâng cấp các cơ sở hạ tầng, cơ sở phục vụ du lịch, các khu du lịch miệt vườn, làng nghề truyền thống... gắn liền với bản sắc văn hoá và thế mạnh của từng đơn vị hành chính trong toàn tỉnh, đảm bảo chất lượng phục vụ tốt, môi trường du lịch an toàn, thân thiện và bền vững. Xây dựng và phát triển các công ty du lịch ngang tầm với quy mô và tiềm năng du lịch Bạc Liêu, có thương hiệu mạnh và uy tín lớn, có mạng lưới phục vụ du lịch rộng khắp và đạt hiệu quả cao.

Chủ động và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch cho toàn tỉnh và từng địa phương bằng nhiều hình thức và phương tiện thông tin: TV, báo, đài, website, sách, tờ rơi, bản đồ, CD, Lễ hội, hội thảo, hội chợ, triển lãm... cả trong nước và nước ngoài nhằm thu hút du khách.

Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động các thành phần kinh tế, các tầng lớp nhân dân thấy rõ được lợi ích lâu dài và thế mạnh du lịch trong phát triển kinh tế chung của thị xã; trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá gắn với phát triển du lịch; chấn chỉnh sắp xếp trật tự mua bán và làm tốt công tác vệ sinh môi trường, bố trí hợp lý khu dịch vụ ăn uống, bán hàng lưu niệm, bãi đậu xe, trồng cây xanh…

Nhà nước cần có cơ chế đặc thù, chính sách hỗ trợ cần thiết nhằm khuyến khích phát triển du lịch Bạc Liêu.

Chú giải

1. American Museum of Natural History - Center for Biodiversity and Conservation. 2003. Tiger in the Forest: Sustainable Nature-based Tourism in Southeast Asia. Spring Symposium, 2003. 

2. Bien, Amos. 2004 The simple user’s guide to certification for sustainable tourism and ecotourism. The International Ecotourism Society.  

3. Christ, Costas, Oliver Hillel, Seleni Matus, and Jamie Sweeting. 2003. Tourism and Biodiversity, Mapping Tourism’s Global Footprint. Conservation International and UNEP, Washington, DC, USA. 

4. Department of Environment and Natural Resources, Bureau of Fisheries and Aquatic Resources of the Department of Agriculture, and Department of the Interior and Local Government. 2001. 
Philippines Coastal Management Guidebook Series No. 7: Managing Impacts of Development in the Coastal Zone. Coastal Resource Management Project of the Department of Environment and Natural 
Resources, Cebu City, Philippines. 

5. Drumm, Andy and Alan Moore. 2005. An Introduction to Ecosystem Planning, Second Edition. The Nature Conservancy, Arlington, Virginia, USA. 

6. Gutierrez, Eileen, Kristin Lamoureux, Seleni Matus, and Kaddu Sebunya. 2005. Linking Communities, Tourism, & Conservation: A Tourism Assessment Process - Tools and Worksheets. Conservation 
International and the George Washington University. 

7. IUCN. 2004.  Managing Marine Protected Areas: A Toolkit for the Western Indian Ocean.  IUCN Eastern African Regional Programme, Nairobi, Kenya.

8. Tài liệu địa Lý Bạc Liêu/2009

9. Onlie:Sở văn hóa ,thể thao và du lịch Bạc Liêu/10-08-2011/