Nuôi tôm bền vững ở Bạc Liêu

Từ FOSS Vietnam - Giáo Dục Môi Trường
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Nuôi tôm bền vững (NTBV) là gì?

Nuôi tôm bền vững là các hình thức nuôi tôm mới nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm thiểu rủi ro trong sản xuất của người dân vùng nuôi tôm nhưng không gây tổn hại đến môi trường sinh thái.

Ý nghĩa của việc nuôi tôm bền vững

Ý nghĩa kinh tế

Nông dân Bạc Liêu thu hoạch tôm nuôi

NTBV giúp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất, nâng cao năng suất sau thu hoạch, phục vụ cho phát triển kinh tế. Nông dân nuôi tôm theo đề án này sẽ giảm được nhiều thiệt hại hơn là nuôi theo tập quán thông thường, năng suất đạt được sau thu hoạch cao hơn gấp nhiều lần so với trước. Nuôi tôm theo hướng bền vững giảm được nhiều chi phí ban đầu, cho năng suất cao”. Lợi thế của mô hình này là: chi phí đầu vào sẽ giảm khoảng 50% so với cách nuôi thông thường [1]

Ý nghĩa trong bảo vệ môi trường (BVMT) chống biến đổi khí hậu (BĐKH)

NTBV giúp môi trường không bị phá hoại, tạo thuận lợi cho người nuôi có thể khai thác lâu dài, vòng quay nhanh với chi phí thấp nhất do tiết kiệm được nước, hạn chế sử dụng hóa chất, kháng sinh vừa đắt tiền, vừa bị thị trường, người tiêu dùng tẩy chay.

Các hình thức canh tác nuôi tôm bền vững ở Bạc Liêu

Giám đốc Sở Thủy sản Bạc Liêu, Phan Trường Giang cho rằng: Hiệu quả sản xuất từ khi chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản là rất đáng mừng. Năm 2003, các hộ nuôi tôm ở Bạc Liêu đạt mức thu nhập như sau: 21 nghìn hộ đạt 20 triệu đồng, 12.900 hộ đạt 20-50 triệu đồng, 5.000 hộ đạt 50-100 triệu đồng, 1.600 hộ đạt 100-150 triệu đồng, 852 hộ đạt 150-200 triệu đồng, 189 hộ đạt 200-500 triệu đồng, 52 hộ đạt 500 triệu - 1 tỷ đồng. Những hộ có thu nhập cao là những hộ nuôi theo mô hình công nghiệp, bán công nghiệp. Còn ở các vùng mới chuyển đổi, thời gian đầu tuy có gặp khó khăn, nhưng đến nay đã ổn định dần, mức thu nhập của người sản xuất cao hơn nhiều lần so với trồng lúa, bình quân đạt 4-5 triệu đồng/ha, có hộ đạt 20-30 triệu đồng/ha. Dù còn gặp nhiều khó khăn về thủy lợi, vốn, giống, kỹ thuật canh tác..., nhưng nhờ nỗ lực của chính quyền các cấp, nông dân đã gieo trồng hàng chục nghìn ha một vụ lúa + một vụ tôm, tạo tiền đề để phát triển bền vững mô hình tôm - lúa trong những năm tới. Có thể điểm qua một số hình thức nuôi tôm đang sử dụng ở Bạc Liêu giúp phát triển bền vững

Nuôi tôm quảng canh cải tiến

Nuôi tôm theo hình thức xen canh tôm - cá; tôm -cua có sử dụng các chế phẩm sinh học nhằm tăng năng suất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hạn chế dịch bệnh trong nuôi tôm

Kỹ thuật nuôi ghép tôm - cá:

1. Chuẩn bị ao nuôi: Là khâu quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp ñến năng suất, sản lượng và hiệu qủa kinh tế trong vụ nuôi. Sau mỗi vụ nuôi do lượng thức ăn dư thừa, chất thải của tôm ñược tích tụ ở đáy ao tạo thành một lớp mùn bả hữu cơ, đây chính là nơi chứa nhiều tác nhân gây bệnh và sản sinh ra một số khí ñộc như NH3 , H2S... làm ảnh hưởng ñến qúa trình phát triển của tôm. Chuẩn bị ao nuôi tốt để loại bỏ những tác hại này gồm các bước: 1.1.Cải tạo ao:

  • ðối với ao mới xây dựng: Chúng ta lấy nước vào ao và ngâm 5-7 ngày, sau đó tháo cạn nước ra , ta tiến hành công việc này 2-3 lần .
  • ðối với ao cũ : ta tiến hành cải tạo theo 1 trong 2 cách sau:

a. Cải tạo khô: + Tháo cạn nước. Nếu cần, ñào mương thóat ở giữa ao hoặc xung quanh ao sao cho dốc về phía cửa thóat để nước chảy ra dễ dàng. + Phơi khô cho đến khi ñất ñáy ao nứt ra để thúc ñẩy nhanh quá trình oxy hóa, giải phóng khí độc và khử các lòai vi sinh vật không cần thiết. + Vét bùn ñáy và mang ra xa ao để đề phòng không chảy ngược lại ao khi có mưa lớn. + Thau rửa ao bằng cách lấy nước vào đến độ sâu 30cm, giữ trong 24 giờ rồi tháo ra b. Cải tạo ướt: Ở những vùng mà ta không tháo cạn ñược thì ta sục bùn lên bằng cách cho trâu bừa hoặc dùng trang cào sau khi xả lớp nước bùn này ra ngoài. Nếu có ñiều kiện thì dùng máy bơm áp lực mạnh rửa trôi chất thải ra khỏi ao.Phương pháp này cũng có nhiều lợi ñiểm ở vùng đất phèn, do không phơi đáy ao nên không có qúa trình oxy hóa và lớp phèn tầng mặt sẽ bị rửa trôi cùng chất thải. 1.2. Gia cố bờ , công ao  : - Tu sửa lại những nơi xung yếu, lấp hết những lỗ mọi ñể tránh thất thóat nước, thẩm lậu. - Gia cô công, làm ñăng lưới chắn quanh cống, phía trong ao. 1.3. Bón vôi: Sau khâu cải tạo ao thì tiến hành bón vôi nhằm tiêu diệt mầm bệnh. Tùy vào giá trị pH đất ở mỗi ao nuôi khác nhau mà ta tiến hành bón lượng vôi khác nhau : ðộ pH đất 2. Chuẩn bị nước nuôi : 2.1 Kỹ thuật lấy nước vào ao nuôi : - Những ao quảng canh cải tiến lấy nước dựa chủ yếu vào thuỷ triều, vì thế người nuôi nên theo dõi kỹ thuật báo quan trắc môi trường của chi cục bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản ñể chọn con nước tốt lấy vào ao. - Thông thường lấy nước vào ao khi triều cao, màu nước bên ngoài trong, màu xanh lá chuôi non, không có chất vẩn, trong vùng nuôi không có dịch bệnh. - Lây nước vào ao khỏang 30cm, ta tiến hành diệt tạp. Tùy thuộc vào ñộ mặn của ao nuôi mà ta sử dụng với liều lượng khác nhau : ðộ mặn > 20%o, liều dùng 30- 60 kg/ha. ðộ mặn < 20%o, liều dùng 45- 75 kg/ha

  • Chú ý : Thời gian sử dụng Saponin nên vào 8h - 10h sáng. Khi trời mù nhiều mây ta có thể tăng lượng saponin lên 50%.Sau ñó tiến hành lấy nước vào ao theo quy định từ 1-1,2m. (Chú ý : Khi lấy nước vào nuôi nên lấy qua túi lọc).

Cấu trúc túi lọc như hình vẽ: Chiều dài túi từ 10-15m, miệng túi bằng miệng cống, túi ñược làm bằng vài ka- tê, vải thun. 2.2 Gây màu nước: - Bón phân bò và phân gà khô theo tỷ lệ 300kg/ha kèm theo phân urê (45-0-0) ở mức 8kg/ha theo phương pháp sau : Ta lấy 1 bao (có thể là bao thức ăn gia súc, gia cầm) ñược ñục lỗ xung quanh và cho vào đó 25kg phân khô trộn với 2 kg urê . Buộc chặt miệng túi vào 1 cây gậy tre rồi nhúng xuống nước. Ta đặt trước miệng cống, xung quanh bờ (cách bờ khỏang 2m). Chất dinh dưỡng từ trong các túi sẽ hòa tan vào nước ao tạo điều kiện cho sinh vật phù du phát triển. Khi ta thấy nước có màu xanh pha nâu ta lấy các túi phân ra khỏi ao. Các chỉ tiêu môi trường trước khi thả tôm: - ðộ kiềm : > 80ppm - Hàm lượng Oxy hòa tan : > 4ppm - Hàm lượng NH3 : < 0,1 ppm - Nhiệt ñộ nước : 28-32oc - PH nước : 7,5-8,5 - ðộ trong : 35-45 cm - ðộ mặn : > 10%o - ðộ sâu của nước : 1-1,2m - Màu nước : xanh lá cây pha nâu 3. Chọn giống tôm và thả giống  : 3.1. Giống tôm : Khi nuôi cá ghép với tôm, giống tôm sú cần đạt cỡ giống : 3-5cm . Vì vậy chúng ta cần trải qua giai đọan ương postlarvae ñến tôm giống khoảng 20 ngày . + Ương trong giai lớn : - Kích thước giai : 5m x 20m x 1,5m; - Mật độ ương : 500-1.000 con/m2 - Giai đặt trong ao nuôi + Ương trong ao ñất : Diện tích từ 300-500m2, mật ñộ 300-500 con/m2. Trong ao đất ta cần cải tạo ao thật kỹ, bón phân gây màu, khi màu nước lên ta bắt đầu thả tôm

  • Thức ăn : Cho ăn 4 lần/ngày ; thức ăn gồm lòng đỏ trứng, bột cá, thức ăn tổng hợp kích cỡ nhỏ có bán tại các đại lý.

Nếu không có điều kiện ương lên giống cỡ 3-5cm ta có thể mua giống lớn ở các trại ương . 3.2. Chọn tôm giống ở các trại giống : - Lấy một ít tôm vào trong chậu, khuấy 1 vòng ta thấy tôm không cuộn vào giữa - Thân thẳng, cỡ tôm đều, chiều dài ≥ 1,2cm. - Ruột đầy, cơ bụng nổi rõ, tỷ lệ ruột / cơ = 1/4 - Màu sắc : xám ñen hoặc xám nâu sáng - Sốc formalin 100ppm trong thời gian 2 giờ, tỷ lệ sống đạt trên 95 % có thể nuôi được. - Giảm đột ngột độ mặn : hạ ñộ mặn chênh 15%o so với nước trong hồ trong 30 phút, ta thấy tôm khỏe, tỷ lệ sống 100% là được. - Kiểm dịch tôm giống: Sau khi chọn được tôm ở trại giống, lấy mẫu ñể kiểm dịch tại Chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản (kiểm tra MBV và SEMBV). 3.3. Lọc tôm giống : Nhằm mục ñích loại bỏ số tôm bị nhiễm bệnh trước khi ñưa vào ao nuôi : Chúng ta có thể lọc ngay trại giống hay ở ao nuôi của chúng ta, nếu lọc tại trại giống thì sau 1 ngày chúng ta mới thả giống. Phương pháp lọc tôm giống như sau : Khi đem tôm giống về ao nuôi, chúng ta dùng bể hay thùng chứa khoảng từ 0,5-1 m3 nước. Cho nước vào và cho hệ thống sục khí cung cấp oxy cho bể lọc tôm. Cho Formol vào bể với lượng  : 200 -250 ppm sau đó cho tôm giống vào với số lượng từ 20 -30 vạn post 15/ m3 nước. Sau 30 phút chúng ta hút toàn bộ tôm chết và yếu lắng tụ ở đáy bể, số tôm còn lại cho xuống ao nuôi. Nếu có điều kiện ta làm việc này ở trại sản xuất tôm giống là tốt nhất . 3.4. Cách thả tôm vào giai, ao ương  : + Thả giống lúc nhiệt ñộ thấp (khỏang 7-10 giờ sáng ) + Thả các túi tôm giống vào ao trong vòng 30-60 phút ñể cân bằng nhiệt ñộ + Mở các túi cho nước từ từ chảy vào hoặc té nước ao vào trong túi, dùng tay khuấy đều. Tiếp tục cho nước vào cho ñến khi nhiệt độ, độ mặn, pH của túi vận chuyển và ao cân bằng sau ñó dốc ngược đáy túi cho tôm ra ngoài. Mật ñộ nuôi thương phẩm từ 5-10 con tôm giống (cỡ 3-5cm)/m2, Tùy thuộc vào ñiều kiện đáy ao, mức ñộ ñầu tư cho ăn. 4. Chọn giống cá thả ghép: 4.1.ðối với vùng nuôi có ñộ mặn >20% : Chọn đối tượng là cá măng (Chanos chanos), rô phi đen, rô phi đỏ để nuôi kết hợp. Mật độ thả ghép các loài cá rô phi, cá măng trong ao nuôi tôm khoảng 0,05- 0,1 con/m2 (10-20 m2 ta thả 01 con cá) tuỳ thuộc mật độ tôm nuôi. 4.2. ðối với vùng nuôi có ñộ mặn < 20% : Chọn đối tượng là rô phi đơn tính : Cỡ cá từ 10-20g/con, mật độ : 0,05-0,1con/m2 Chú ý: ðối với cá rô phi đỏ và cá rô phi đơn tính, cần thuần hóa độ mặn; pH trước khi thả giống; Công việc này nên thực hiện ở các trại tôm giống. 5.Chăm sóc và quản lý: 5.1. Cho ăn: Lượng thức ăn viên cho tôm ăn hàng ngày từ 2- 10 % trong lượng thân của tôm. + Lượng thức ăn trong ngày ñược chia ra như sau : - 11 giờ sáng cho ăn 30% lượng thức ăn - 6 giờ tối cho ăn 40% lượng thức ăn - 11 giờ tối cho ăn 30% lượng thức ăn + Lượng thức ăn khởi điểm cho 10 vạn tôm 3-5cm : 4 kg/ ngày . - Trong tháng ñầu: cứ 4 ngày tăng lên 0,8-1 kg thức ăn/ ngày. - Tháng thứ 2 : cứ 03 ngày tăng lên 1 kg thức ăn/ ngày. - Từ cuối tháng thứ 3 trở ñi : cứ 4 ngày tăng 1 kg thức ăn/ ngày Cứ 15 ngày dùng chài bắt tôm cân mẫu 01 lần để ñiều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

  • Các yếu tố ảnh hưởng đến chế độ cho ăn :

+ Nhiệt độ : Nhiệt ñộ thích hợp cho tôm ăn mồi từ 26-33oC; 34oC < nhiệt độ < 25oC ñều làm tôm giảm ăn + Lột xác : ðây là hiện tượng bình thường trong chu trình phát triển của tôm . Khi kiểm tra thấy tôm lột xác hàng lọat cần giảm lượng thức ăn xuống 25% và chỉ tăng trở lại sau 2 ngày. + Tảo tàn : Khi phù du thực vật chết ñột ngột, thay ñổi ñiều kiện môi trường ao xảy ra xốc cho tôm làm tôm giảm ăn. Tôm sẽ giảm ăn khi nước quá trong, lượng NH3 trong nước cao cũng làm tôm kém ăn. 5.2. Thay nước: Sau khi thả tôm ñược 1 tháng ta có thể thay nước cho ao nuôi. Tuỳ vào con nước tốt xấu mà ta có thể tiến hành thay nước vào thời điểm nào, nên chú ý kết quả quan trắc môi trường của vùng nuôi. Mỗi lần thay nước không quá 20% . Ngoài việc thay nước ñịnh kỳ ra ta có thể tiến hành thay nước cho ao nếu : - pH dao động quá 0,5 đơn vị trong ngày hay nhỏ hơn 7,5 và lớn hơn 8,5. - Màu nước trong ao đậm hơn một cách ñáng kể (độ trong từ 20-25cm). - Nước trong ao quá trong (ñộ trong lớn hơn 80cm ). - Bọt không tan xuất hiện ở mặt nước ao. - Hàm lượng các chất hữu cơ lơ lửng gia tăng . Sau một lần lấy nước ta nên lấy túi lọc nước giặt sạch, phơi khô và lắp đặt trở lại. 5.3.Quản lý chất lượng nước trong ao : + ðộ sâu : > 1m, lý tưởng nhất là 1,5m; càng sâu môi trường sống của tôm càng ổn ñịnh . + Màu nước : Nước nên có màu xanh lá cây pha nâu, nâu vàng hoặc xanh lá chuối non. + ðộ trong : ñạt từ 40-60cm trong vòng 2 tháng đầu. ðến tháng thứ 3 trở đi duy trì độ trong từ 35-45cm. + pH : Duy trì pH nước trong khỏang 7,5-8,5 . Nếu pH thấp hơn hoặc cao hơn , thay nước và bón vôi sống (CaCO3), vôi dolomite (CaMg(CO3)2) với tỷ lệ 150-300 kg/ha . pH dao ñộng lớn hơn 0,5 ñơn vị /ngày sẽ gây bất lợi cho sinh trưởng của tôm. 6. Thu hoạch: 6.1. Thời ñiểm thu họach : Tôm sau 3 tháng tuổi ta có thể tiến hành thu hoạch, mục tiêu của công việc thu họach là ñánh bắt ñàn tôm ra khỏi ao với chất lượng tốt và thời gian ngắn, có thể nên thu vào lúc giá cao. Tránh làm tôm bị tổn thương hay quá bẩn bỡi bùn đáy ao. Tuy nhiên việc thu họach còn phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe tôm nuôi và môi trường ao nuôi. Khi tôm bỏ ăn trên 50% hoặc tôm chết rải rác thì nên thu họach. Trong trường hợp bình thường, khi thu họach chúng ta cần chú ý tỷ lệ mềm vỏ của tôm nuôi (không quá 5%). ðể ñiều khiển vấn đề này trước khi thu họach khoảng 5-7 ngày ta thay nước ao nuôi khỏang 40-50%. Thỉnh thoảng người nuôi cũng thu tỉa, có 4 cách để thu tỉa ( thu một phần) tôm : - Dùng lưới kéo, tuy nhiên phải cẩn thận tránh không khuấy động chất lắng ở đáy ao. - Có thể ñặt túi lưới ở cống thoát nước để thu tôm nhưng ñừng hạ mức nước ao xuống 80cm hay làm khuấy chất thải ở ñáy dẫn ñến chất lượng nước ao xấu đi. - ðánh lưới rê. - Dùng chài.

Nuôi tôm trong rừng Đước (Mô hình "Tôm- rừng")
Nuôi tôm dưới rừng đước

Đất rừng đước là đất bãi bồi được hình thành với quá trình phân hủy yếm khí của hệ sinh thái rừng ngập kéo dài nhiều năm. Quá trình này tạo nên kết cấu đất thiếu ổn định chứa một hàm lượng lớn vật chất hữu cơ, do đó nước dễ bị thấm qua các bờ ao làm mất nước và có thể thấm nước từ ngoài vào khi triều cường. Điều này ảnh hưởng nhiều đến quá trình sinh trưởng và phát triển của tôm trong ao nuôi, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát sinh và lây lan bệnh trong vùng nuôi tôm. b. Cải tạo ao nuôi. Tháo cạn đồng loạt các ao nuôi vào thời điểm con nước kém để phơi đáy ao bằng cách: [1]> - Hút cạn nước trong ao nuôi bằng máy bơm nước. - San bằng phẳng đáy ao, tu sửa, gia cố bờ ao, cống bọng. - Dùng với bột ( CaCO3 ) rải đều khắp ao, liều lượng 14 kg/100m2. - Tiếp tục phơi ao 2 ngày, sau đó rửa bỏ hết nước vôi và bắt đầu lấy nước vào, tiến hành xử lý nước ngay trong ao nuôi bằng Chlorine (30ppm). - Sau 4 ngày xử lý Chlorine bón DAP (1kg/1000m2) để gây màu nước. - Khi độ trong đạt được 40-50 cm thì có thể thả tôm post. c. Chuẩn bị ao lắng. - Qúa trình cải tạo và chuẩn bị ao chứa được tiến hành tương tự như ở ao nuôi. - Qúa trình xử lý Chlorine ao chứa lần đầu cùng lúc với quá trình xử lý trong ao nuôi nhằm khống chế mầm bệnh ngay từ ban đầu không cho lây lan vào ao nuôi. d. Quan trắc các chỉ tiêu thủy hóa hàng ngày. Độ trong: Độ trong thích hợp nhất trong ao nuôi là 30-40 cm. pH nước ao nuôi: Bón vôi một cách hợp lý mà pH ở đầu vụ nuôi có trị số rất lý tưởng (7,5-8,5) Oxy hòa tan: Tăng quạt nước, thay nước cải thiện môi trường để đảm bảo đủ lượng oxy hoà tan Nhiệt độ nước ao nuôi: Nhiệt độ dao động trong khoảng 29-32 C là tốt nhất. Có thể điều chỉnh nhiệt độ bằng cách thay đổi mực nước ao nuôi lên đạt độ cao thích hợp (1,0-1,2 m) Độ sâu mực nước: Mực nước trung bình dao động 85-95 cm. Vào những mưa to kéo dài thì mực nước lên đến 100-110 cm. Đo mực nuớc để có sự điều chỉnh thích hợp. e. Quan trắc các chỉ tiêu thủy hóa định kỳ. Độ mặn: Độ mặn giảm làm tôm đóng rong và mềm vỏ. Giữ độ mặn 15-20 phần ngàn là lý tưởng nhất. Tảo: Theo nhiều tài liệu, tảo silic (làm cho nước có màu vàng nâu) là tảo có lợi cho tôm.

Nuôi tôm trong ruộng lúa (Mô hình "Tôm- lúa")

Nuôi tôm trong ruộng lúa là hình thức canh tác kết hợp giữa Trồng Trọt và Thủy sản. Phương thức nuôi này không những làm giảm việc tranh diện tích sản xuất mà còn góp phần tăng thu nhập trên một mảnh đất, nuôi tôm trong ruộng lúa chẳng những không giảm năng suất lúa mà còn có sản phẩm tôm.[2]

Phương pháp và kĩ thuật nuôi

a. Công trình Ruộng nuôi cần có bờ chắc chắn giữ được nước, ngăn chặn sự xâm nhập của địch hại, mặt ruộng thấp dể dàng cấp và tiêu nước. Thời gian ngập nước trên ruộng (10- 30 cm) càng dài càng tốt để tôm có thời gian lên ruộng sinh trưởng nhưng cũng tùy theo giai đoạn phát triển của cây lúa mà mức nước giữ sẽ khác nhau. Ruộng nuôi tốt nhất là hình chữ nhật diện tích từ 0.1- 1 ha, thông thường 0.2-0.5 ha Mỗi ruộng có ít nhất là một cống sao cho thay được càng nhiều nước vào lúc nước rong thì càng tốt. Bên cạnh đó có thể dùng cống để thu thêm tôm giống từ bên ngoài vào. Hệ thống mương bao rất quan trọng đây sẽ là nơi trú của tôm lúc nhiệt độ cao hay phun thuốc trừ sâu, mương bao có kích thước cỡ 2- 3 m (sâu 1-2 m) dốc về phía cống, ngoài ra cũng nên đào thêm các mương phụ theo dạng bàn cờ rộng 1-1.5 m (sâu 0.8- 1 m) tổng diện tích mương so với diện tích ruộng nên từ 15- 25 % là phù hợp. b. Kỹ thuật nuôi Cải tạo ruộng nuôi: việc chuẩn bị ruộng để cấy vẫn tiến hành bình thường nhưng mương cần phải sên vét sau 2-3 vụ nuôi. Tiến hành tát cạn ao/mương, bón vôi, phơi đáy ao/mương như chuẩn bị cho ao nuôi. Đối với lúa có thể sạ hay cấy nhưng cấy thì tốt hơn vì tôm có thể di chuyển dễ dàng. Mùa vụ: trong năm có 2 vụ lúa chính là Đông- Xuân (tháng 11- 12 đến tháng 2- 3dl) và Hè- Thu (tháng 4-5 đến tháng 7-8 dl) tùy vùng mà tôm nuôi có thể ghép với các vụ lúa khác nhau. Vụ Hè - Thu do có thời gian ngập ruộng dài nên tôm nuôi có thể tận dụng thời gian ngập ruộng sau khi thu hoạch lúa. Vụ này kéo dài từ tháng 4- 5 dl đến tháng 10- 11 dl (7 tháng ) Vụ Đông -Xuân do có thời gian khô đồng nên nuôi ghép tôm có khó khăn hơn vì thời gian nuôi ngắn, tôm chưa đạt kích cỡ thương phẩm. Tuy vậy một số vùng có cao trình mặt bằng thấp, chủ động được nước thì có thể nuôi ghép được nhưng thời gian nuôi thường giáp năm (11 tháng) đến vụ Đông -Xuân tiếp theo mới thu hoạch toàn bộ. Tôm giống thả trong mương bao để ương và chuẩn bị cấy lúa, khi cấy xong dâng mực nước lên cho tôm lên ruộng Mật độ thả: ở ruộng nuôi do diện tích mương giới hạn nên mật độ thả thấp 3-4 con/ m2 (tôm giống 3-5 g/con) hay 0.5- 2 con/ m2 tùy theo kh năng bổ sung giống và thức ăn. Hiện nay, việc th tôm trong ruộng cùng với cá khá phổ biến, thường mật độ thấp từ 1- 2 tôm /m2. Thức ăn, phương pháp cho ăn: kiểm tra tôm sử dụng thức ăn và trọng lượng tôm hàng tháng để điều chỉnh khẩu phần ăn, tiến hành như nuôi tôm trong ao. Khẩu phần cho ăn chỉ cần 3% trọng lượng cơ thể sau một tháng đối với tôm giống tự nhiên và sau 4 tháng đối với tôm bột vì trong ruộng có nhiều thức ăn tự nhiên, mật độ thả thấp. Thức ăn nên rãi nhiều điểm xung quanh mương hay trong sàng ăn đặt trong ao. Chăm sóc quản lý: nuôi tôm trong ruộng lúa cần phải chăm sóc, quản lý thật chặt chẽ vì nó liên quan đến việc canh tác lúa. Trao đổi nước thường xuyên, càng nhiều càng tốt nhưng cũng chú ý việc kích thích tôm lột xác như nuôi trong ao. Vào ban đêm do các loại thực vật và rể lúa sử dụng oxy nên rất dể xảy ra tình trạng thiếu oxy vào buổi sáng, nếu có hiện tượng tôm nổi đầu vào buổi sáng thì cần tiến hành trao đổi nước ngay. Phòng chống và theo dõi thường xuyên địch hại của tôm vì nuôi tôm trong ruộng lúa địch hại có thể ảnh hưởng rất lớn đến tỉ lệ sống và năng suất của tôm. Việc phun thuốc trừ sâu cho lúa phải cẩn thận, thông thường rút hết nước trên ruộng lúa cho tôm xuống mương và tiến hành phun thuốc nhằm tránh thuốc rơi xuống mương, sau 2-3 ngày dâng nước lên để tôm trở lại ruộng ăn bình thường. Mặt khác, cũng cần chú ý sử dụng các loại thuốc ít độc đối với tôm như DDVP, Basa, Azorin, Monitor và chọn các giống lúa kháng sâu rầy để hạn chế việc phun thuốc. Thu hoạch: mặc dù thức ăn tự nhiên trong ruộng phong phú nhưng mật độ nuôi thấp nên tôm tăng trưởng nhanh ngược lại địch hại nhiều nên năng suất thường thấp 100- 300 kg/ ha/vụ đối với vụ Hè - Thu và riêng đối với vụ Đông - Xuân thì thu tỉa thả bù.

Thức ăn cho tôm bảo đảm đủ dinh dưỡng và khoáng để tôm phát triển tốt, lột xác dể dàng. Có thể dùng thức ăn viên, cá vụn, con ruốc hay tép v.v... Thức ăn phải bảo đảm các thành phần dinh dưỡng như sau: Protein : 30-35 % ; Lipid : 3-5% ; Canxi : 2-3% ; Phospho : 1-1,5% ; Cellulose : 3-5%

Khẩu phần ăn tính theo % trọng lượng thân, hay từng khoảng thời gian một thay đổi hệ số 1 lần. Trong ruộng lúa chỉ cần cho ăn bằng 1/2 lượng thức ăn trong ao, vì tôm có thể ăn thức ăn tự nhiên trong ruộng lúa. Có thể dựa vào bảng 4 để tính vào lượng thức ăn hàng ngày. Nếu dùng thức ăn tươi sống tăng lên 4-5 lần. Cho ăn ngày 2 lần vào 6h và 18h. Thức ăn được rải đều khắp ao để tôm dễ bắt mồi. Trong các ao để các sàng chứa thức ăn, kiểm tra lượng thức ăn thừa hay thiếu, nếu thiếu phải bổ sung thêm, nếu thừa thì giảm xuống.

Nuôi tôm công nghiệp bền vững (Sử dụng các tiến bộ Sinh học trong nuôi tôm)

Bạc Liêu là tỉnh ven biển có gần 130 nghìn ha đất chuyên nuôi tôm, lớn thứ hai ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, thời gian qua do môi trường đất, nước bị ô nhiễm nặng, tôm nuôi chết hàng loạt, nhiều hộ phải bỏ đất hoang... Trong cái khó đã "ló cái khôn", nhiều hộ mạnh dạn áp dụng mô hình nuôi tôm sử dụng chế phẩm sinh học, khắc phục tình trạng suy thoái môi trường, dịch bệnh, nâng cao chất lượng sản phẩm, đem lại hiệu quả cao và bền vững, mở ra hướng làm ăn mới...

Theo kỹ sư Lương Ngọc Lân, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, mấy năm qua, nuôi trồng thủy sản nói chung, nuôi tôm theo hình thức công nghiệp, bán công nghiệp (CN-BCN) nói riêng ở tỉnh Bạc Liêu bộc lộ nhiều khó khăn và rủi ro cao. Cụ thể, tôm sú thả nuôi chậm phát triển, thời gian thả nuôi kéo dài từ 5 đến 6 tháng (những năm đầu mới chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi tôm, người dân chỉ nuôi bốn tháng là thu hoạch). Đáng lưu ý, mấy năm nay, bệnh ở tôm xuất hiện nhiều; thời tiết luôn diễn biến bất lợi, các giải pháp nuôi tôm bằng quy trình hóa chất, kháng sinh không mang lại hiệu quả ổn định, bền vững. Vì vậy, nhiều hộ nuôi tôm trong tỉnh thất bại, thua lỗ; không ít hộ hết vốn nên đành bỏ nghề nuôi tôm. Gần đây, một số kỹ sư và hộ nông dân trong tỉnh đã áp dụng quy trình nuôi tôm bằng việc sử dụng chế phẩm sinh học. Nhờ vậy, đã hạn chế được nhiều tình trạng suy thoái môi trường, dịch bệnh; tôm nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao, nâng cao chất lượng sản phẩm... Đây là cách nuôi tôm đang được tỉnh và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khuyến cáo áp dụng rộng rãi... Phương pháp nuôi tôm sú CN-BCN sử dụng chế phẩm vi sinh xuất hiện ở tỉnh Bạc Liêu từ năm 2000, do kỹ sư Đỗ Mạnh Thường, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bạc Liêu làm chủ đề tài khoa học cấp tỉnh. Từ việc nuôi tôm sú thử nghiệm thành công cho năng suất, hiệu quả cao, từ năm 2005, cách làm này được một số hộ dân áp dụng đem lại hiệu quả cao. Theo kỹ sư Đỗ Mạnh Thường, nghề nuôi tôm sú CN-BCN sử dụng chế phẩm sinh học đã chứng minh được tính vượt trội, đa năng của các loại vi sinh so với sử dụng hóa chất, kháng sinh trước đây. Nhờ vậy, diện tích nuôi tôm sú CN-BCN theo mô hình này ở Bạc Liêu hiện lên đến hơn 12 nghìn ha và số lượng sử dụng chế phẩm vi sinh định kỳ hoặc không định kỳ (có sử dụng hóa chất để hỗ trợ thêm) chiếm khoảng 90%, trong đó hơn 80% số hộ nuôi đạt hiệu quả. Về mật độ nuôi, phổ biến nhất là nuôi từ 10 đến 20 con/m2 (chiếm 60%), trong đó số hộ sử dụng vi sinh đạt hiệu quả chiếm hơn 80%. Đối với hộ nuôi mật độ trên 20 con/m2 chiếm 30%, và dưới 10 con/m2 chiếm 10%, sử dụng vi sinh hoặc kết hợp với hóa chất đều đạt hiệu quả cao. Qua đó cho thấy, nuôi tôm CN-BCN với mật độ khác nhau nhưng sử dụng chế phẩm sinh học đều đạt hiệu quả cao so với chỉ đơn thuần sử dụng hóa chất. Sử dụng chế phẩm sinh học tạo nên môi trường sạch làm tiền đề để vật nuôi khỏe, mau ăn, chóng lớn, tăng sức đề kháng, cho năng suất và lợi nhuận cao mà không một hóa chất hay kháng sinh nào có thể làm được. Ngoài ra, môi trường không bị phá hoại, tạo thuận lợi cho người nuôi có thể khai thác lâu dài, vòng quay nhanh với chi phí thấp nhất do tiết kiệm được nước, hạn chế sử dụng hóa chất, kháng sinh vừa đắt tiền, vừa bị thị trường, người tiêu dùng tẩy chay.

Ở Bạc Liêu còn có ông Võ Hồng Ngoãn, xã Vĩnh Trạch (thị xã Bạc Liêu) cũng nổi tiếng về cách nuôi tôm theo quy trình sinh học và đã đạt được nhiều thành công. Theo ông Ngoãn, nuôi tôm sạch ứng dụng chế phẩm sinh học, nuôi mật độ thưa đã tạo ra nhiều ưu thế: giảm rủi ro và chi phí. Do áp dụng thành công mô hình nuôi tôm công nghiệp bằng quy trình sinh học, nuôi tôm sạch, đạt kích cỡ lớn mà sản phẩm của ông có sức cạnh tranh cao, từng bước tạo được uy tín, vị thế trên thương trường. Năm 2008, trong điều kiện giá tôm nguyên liệu giảm, cỡ tôm 35 con/kg trên thị trường dao động ở mức 78 nghìn đến 86 nghìn đồng/kg, nhưng sản phẩm của ông đạt trọng lượng bình quân 20 con/kg, giá bán vẫn đạt 120 nghìn đến 130 nghìn đồng/kg... Năm 2009, do giá tôm ở mức khá cao, một kg tôm sú ông bán ra thị trường từ 150 nghìn đến 170 nghìn đồng/kg, bình quân trọng lượng đạt 18 đến 20 con/kg. Trong khi nhiều hộ nuôi tôm sú CN-BCN ở vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu thua lỗ, nhưng năm nào ông Võ Hồng Ngoãn cũng trúng mùa thu lãi hàng tỷ đồng. Ở tỉnh Bạc Liêu, nhiều người gọi kỹ sư Lê Anh Xuân và ông Võ Hồng Ngoãn là "vua tôm". Có thể khẳng định, quy trình nuôi tôm ứng dụng công nghệ sinh học đang được nhiều nông dân Bạc Liêu thực hiện rộng rãi, nhất là trong nuôi tôm sú CN-BCN, bởi những lợi ích mà nó mang lại. Thành công này mở ra triển vọng mới cho nghề nuôi tôm không chỉ ở Bạc Liêu mà còn cho cả vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi có tiềm năng, thế mạnh nuôi trồng thủy sản.


Chú thích

  1. Hồng Nga-Theo kinh tế nông thôn/(26/04/2011)/http://www.dailoibinhduong.com.vn/index.php?mod=readn&id=1384&m=Nuôitôm
  2. Theo tài liệu đào tạo từ xa - Viện Thuỷ sản - Đại học Cần Thơ