Kinh tế biển ĐBSCL

Từ FOSS Vietnam - Giáo Dục Môi Trường
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Tiềm năng của vùng

Kien Giang 8.jpg

Vùng ĐBSCL có diện tích tự nhiên khoảng 4 triệu ha, toàn vùng có khoảng 750km chiều dài bờ biển (chiếm khoảng 23% tổng chiều dài bờ biển của cả nước) với 22 cửa sông, cửa lạch và hơn 800.000ha bãi triều (70-80% là bãi triều cao). Điều kiện như vậy đã tạo nên những vùng đất ngập nước quy mô lớn và đa dạng về kiểu môi trường sinh thái (mặn, ngọt, lợ). Sự giao thoa mặn, ngọt, lợ đã tạo nên vùng sinh thái đặc thù, hiếm có trên thế giới cùng với hệ thống canh tác tương đối đồng nhất, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất thủy hải sản tập trung.

Ngoài tiềm năng về nuôi tôm nước lợ (tôm sú, thẻ chân trắng) và nuôi cá cá tra, basa, ĐBSCL còn có tiềm năng nuôi trồng các loại nhuyễn thể, các loài thủy sản nước lợ khác, các loài thủy sản ưa chuộng nước ấm, các loài thủy sản có thể chịu được môi trường phèn đục như cá lóc, cá rô, lươn… Trên thực tế, việc nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở ĐBSCL đã trở thành một nghề truyền thống và không ngừng phát triển. Theo tính toán của các nhà khoa học, tổng diện tích có khả năng NTTS ở ĐBSCL là hơn 1.200.000ha, gần bằng 60% tổng diện tích có khả năng NTTS của cả nước. Trong đó, diện tích có khả năng NTTS vùng triều khoảng 750.300ha, chiếm trên 26% tổng diện tích đất tự nhiên của 8 tỉnh ven biển của vùng. Vùng bán đảo Cà Mau có tiềm năng phát triển NTTS mặn lợ rất lớn (trên 630.000ha), khu vực ven sông Tiền và sông Hậu trên 123.000ha. Diện tích có khả năng nuôi thủy sản nước ngọt của ĐBSCL cũng rất lớn (trên 500.000ha) được phân bố chủ yếu ở các tỉnh như Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang…

Đồng bằng sông Cửu Long có vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, có tiềm năng lớn nhất để phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lương thực, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản, phát triển vườn cây ăn trái đem lại giá trị xuất khẩu lớn cho cả nước và mở rộng giao lưu với khu vực và thế giới.


Tác động xấu từ con người đến môi trường kinh tế biển

Thuỷ- hải sản là nguồn lợi kinh tế lớn và quan trọng của vùng ven biển. Những năm gần đây việc phát triển nhanh chóng diện tích nuôi tôm tự phát, không theo quy hoạch chung, thiếu các giải pháp kỹ thuật đã gây nhiều thiệt hại cho lâm nghiệp, nông nghiệp và ảnh hưởng xấu tới môi trường, không những gây suy thoái môi trường ngay tại các khu vực chuyển đổi mà còn làm tăng mức độ lan truyền mặn sâu vào nội đồng. Nhiều khu vực sự lan truyền ô nhiễm diễn ra không kiểm soát được. Việc sút giảm diện tích và suy thoái chất lượng rừng ngập mặn gây hậu quả nghiêm trọng, là một trong những nguyên nhân chính của vấn đề xói lở bờ biển, cửa sông, ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của thuỷ hải sản ven biển.

Sự phát triển của vùng đang bộc lộ nhiều bất cập, suy giảm nguồn lợi thủy sản do ô nhiễm môi trường và tình trạng khai thác hủy diệt... Nguồn lợi thủy sản, nhất là khu vực ven bờ có nguy cơ cạn kiệt, chất thải sản xuất, sinh hoạt chưa được xử lý triệt để, thải trực tiếp ra môi trường làm chất lượng nước đang diễn biến xấu đi.

Các hoạt động sinh kế ở khu vực ven biển ở ĐBSCL nói chung đều chịu ảnh hưởng xấu bởi biến đổi khí hậu. Riêng nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng nặng nhất. Thực tế cho thấy, hiện tượng xâm nhập mặn cùng với việc chuyển đất lúa qua nuôi tôm trong khoảng 10 năm trở lại đây đã làm cho đất ở tỉnh Bạc Liêu bị nhiễm mặn, kết quả là 100% số hộ ở khu vực gần biển và 40% số hộ ở khu vực xa biển không thể trồng lúa. Tỷ lệ số hộ canh tác tôm - lúa ở khu vực gần biển bị thua lỗ cao hơn gấp 3 lần khu vực xa biển.

Rõ ràng, thời gian qua, tiềm năng kinh tế biển, đảo của vùng chưa được khai thác triệt để và hiệu quả, còn mang tính tự phát, chủ yếu dựa vào yếu tố thiên nhiên. Những bất cập này đang là lực cản cho sự phát triển của vùng.


Xu hướng phát triển

Để phát triển kinh tế biển, đảo góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của vùng, vấn đề liên kết vùng phải đưa lên hàng đầu. ĐBSCL cần có một quy hoạch chung cho toàn vùng, sau đó mới bố trí các dự án phù hợp với từng địa bàn trong khu vực.

Cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch theo nguyên tắc gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ. Đây là yêu cầu cấp bách nhằm đảm bảo ổn định nguồn nguyên liệu thủy sản chế biến và tiêu dùng ở mức hợp lý, tránh tình trạng cung vượt cầu. Đối với vấn đề tổ chức sản xuất, cần chuyển đổi theo nguyên tắc quản lý cộng đồng thông qua việc thành lập các tổ hợp tác, hợp tác xã, hiệp hội nuôi… nhằm gắn kết “4 nhà” (quản lý, sản xuất, DN, tiêu dùng) với nhau trong việc ứng dụng các quy trình nuôi tiên tiến (GAP, CoC…) để sản phẩm đảm bảo chất lượng cao và an toàn theo yêu cầu thị trường với giá thành hợp lý.

Cân đối nguồn vốn đầu tư cho vùng và tăng cường thu hút vốn ODA, FDI. Đồng thời, kết hợp hài hòa giữa các giải pháp công trình và phi công trình trong xây dựng mới, nâng cấp hệ thống đê sông, đê biển; quy hoạch thủy lợi chi tiết có xét đến tác động của BĐKH, đặc biệt là nước biển dâng.

Bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ ven biển, sử dụng tài nguyên nước hợp lý... và nâng cao nhận thức của cộng đồng về sử dụng bền vững tài nguyên nước thích ứng với BĐKH. Có như vậy, lợi thế về sông, biển mới được phát huy.


Tham khảo