Đất nhiễm mặn ở Bạc Liêu

Từ FOSS Vietnam - Giáo Dục Môi Trường
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Định nghĩa

Là loại đất mà nồng độ Na+ và Cl- (do nước biển xâm nhập) cao trên 5g/1000g đất.Loại đất này có chứa cation Na+ cao hấp thụ trên bề mặt keo đất và trong dung dịch đất.

Datman.jpg

Nguyên nhân

Do nước biển tràn vào.

Do ảnh hưởng của nước ngầm. Về mùa khô muối hòa tan theo các mao quản dẫn lên làm cho đất bị nhiễm mặn.

Được hình thành ở các vùng đồng bằng ven biển.

Đặc điểm chung của nhóm đất mặn.

Đặc điểm chung

Đất có thành phần cơ giới nặng. Tỉ lệ sét từ 50-60%. Đất chặt, thấm nước kém, khi bị ướt, dẻo, dính. Khi bị khô, đất co lại, nứt nẻ, rắn chắc, khó làm đất. Đất có nhiều muối tan dưới dạng NaCl, Na2SO4 nên áp suất thẩm thấu dung dịch đất lớn làm ảnh hưởng đến quá trình hút nước và chất dinh dưỡng của cây trồng Đất có phản ứng trung tính hoặc kiềm yếu. Hoạt động của vi sinh vật đất yếu.

Diện tích

Nhóm đất mặn ở Bạc Liêu có diện tích là 867,706km2 chiếm 33,6% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.

Phân bố

Ban do bac lieu.png

Nhóm đất mặn phân bố ở TP Bạc Liêu, Huyện Hòa Bình, Đông hải, Giá Rai, Phước Long.

Phân loại đất mặn

Đất mặn nhiều

Đất mặn nhiều tập trung ở khu vực ven biển Bạc Liêu, Hoà Bình, Đông Hải một số xã tây –nam Gía Rai, đông- nam Vĩnh Lợi, nam Phước Long. Diện tích khoảng hơn 13245 ha, bằng 5,13% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.

Đất dưới rừng ngập mặn.

Diện tích hơn 6300 ha, chiếm hơn 2,4% diện tích toàn tỉnh, trong đó đất mặn dưới rừng ngập mặn phòng hộ là hơn 4650 ha, đất mặn mới bồi hơn 1600 ha, phân bố ở ven biển thuộc TP Bạc Liêu, Hoà Bình, Đông Hải.

Đất mặn trung bình.

Diện tích 4.895ha, chiếm khoảng gần 2% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố chủ yếu ở Vĩnh Lợi, Giá Rai.

Đất mặn ít

Đất mặn ít có diện tích có diện tích khoảng hơn 56 ngàn ha, chiếm khoảng gần 22% diện tích của tỉnh, phân bố ở tất cả các địa phương, song tập trung nhiều ở Vĩnh Lợi, Giá Rai, đông Phước Long.

Ảnh hưởng của nhiễm mặn tới sản xuất

Huyện Giá Rai là một trong những vùng trồng lúa có diện tích lớn của tỉnh Bạc Liêu. Cách đây vài năm, cống đập Giá Rai được đầu tư ngăn mặn kênh xáng Phó Sinh để đón nước ngọt từ Quản Lộ - Phụng Hiệp. Từ đập Giá Rai nhìn vào, bên phải kênh xáng Phó Sinh là xã Phong Tân thuộc vùng trồng lúa; bên trái là xã Phong Thạnh được chuyển dịch sang nuôi tôm từ năm 2001. Mùa khô năm nay, như nhiều vùng ở đồng bằng sông Cửu Long, huyện Giá Rai cũng gặp đại hạn, vùng trồng lúa Tân Phong cạn khô. UBND tỉnh Bạc Liêu đã chủ trương đóng cống Giá Rai để kéo nước ngọt từ Quản Lộ - Phụng Hiệp về kênh xáng Phó Sinh cứu lúa vụ ba Phong Tân. Nhưng nước ngọt không về, hàng trăm hecta lúa vụ ba ở Phong Tân “chết đứng” và hàng trăm hecta vuông tôm ở Phong Thạnh cũng cạn khô.

Năm 2001, UBND tỉnh Bạc Liêu chủ trương chuyển dịch hơn 2.500 ha đất trồng lúa ở xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai sang nuôi tôm. Đầu tháng 2, trong con nước ròng giáp tết (nước mặn dâng lên cuối năm), UBND huyện Giá Rai đã cho mở cống đập Giá Rai lấy nước mặn vào kênh xáng Phó Sinh để dân nuôi tôm đầu vụ. Nhưng mấy ngày sau, đúng 30 tết, ngành nông nghiệp tỉnh Bạc Liêu chủ trương đóng cống đập Giá Rai, đồng thời cho bơm nước mặn ra sông để kéo nước ngọt từ kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp về cứu lúa vụ ba cho xã Phong Tân nằm đối diện qua kênh xáng Phó Sinh. Vậy là gần 2.500 ha nuôi tôm xã Phong Thạnh A, huyện Giá Rai khô kiệt nước, tôm chết đỏ quạch đáy ao, hơn 1.500 ha thiệt hại nặng (trong đó hơn 500 ha thiệt hại hoàn toàn).


Bà Nguyễn Thị Liễu (ấp 20, xã Phong Thạnh A) có hai ao nuôi tôm công nghiệp rộng gần 3 ha. Sau khi xuống ba đợt tôm giống gần 150 triệu đồng đã bị trắng tay vì thiếu nước mặn. Độ mặn nước trong vuông lên gần 40 phần ngàn do trời nắng gắt. “Độ mặn nước trong đầm tôm chỉ còn cách làm muối” - bà Liễu nói như mếu. Ông Nguyễn Văn Hàn, một người nuôi tôm ở Phong Thạnh A, giọng bất bình: “Con tôm hay cây lúa cũng là giá trị kinh tế nhưng chính quyền ở đây quý lúa hơn tôm”. Nước mặn ngoài cống đập Giá Rai đầy ắp nhưng trong cống thì cạn đến đáy. Tôm chết đỏ đáy đầm tôm.

Theo ông Mai Chí Tín, Chủ tịch UBND huyện Giá Rai, việc mở cống để giải quyết nước mặn cho vùng chuyển dịch nuôi tôm Phong Thạnh A sẽ được thực hiện trở lại khi lúa gặt xong vụ ba. Nhưng lúa vụ ba trên đồng Phong Tân nhiều chỗ cũng đang chết đứng vì thiếu nước. Việc đóng cống đập Giá Rai ngăn mặn cứu lúa làm ảnh hưởng đến việc thiếu nước mặn nuôi tôm không chỉ ở xã Phong Thạnh A. Các xã khác của huyện Giá Rai như Phong Thạnh, Tân Thạnh Đông, Phong Thạnh Tây, thị trấn Hộ Phòng diện tích tôm nuôi bị thiệt hại trên 50%. Mặc dù Bạc Liêu đã hạn chế lấy nước mặn vào vùng ngọt hóa Quản Lộ - Phụng Hiệp để kéo nước ngọt về nhưng nước ngọt không về. 20.000 ha lúa đông xuân đang khát nước nghiêm trọng. Mặc dù đã đóng các cống ngăn mặn nhưng nước mặn vẫn thâm nhập nội đồng, đe dọa các trà lúa đông xuân. Việc đóng cống ngăn mặn đã ảnh hưởng trực tiếp đến trên 40.000 ha diện tích nuôi tôm khu vực chuyển dịch nuôi trồng thủy sản của Bạc Liêu.

Giải pháp

Vấn đề cải tạo

Ðất mặn là một trong những loại đất xấu ở Việt Nam muốn sử dụng đất có hiệu quả cao người ta phải tiến hành cải tạo đất. Mục đích cải tạo đất mặn nhằm: + Giảm tổng số muối tan đến mức bình thường cho cây trồng. + Tăng cường hàm lượng các chất dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng. + Từng bước cải thiện tính chất vật lý của đất. Ðể thực hiện các mục đích trên cần phải áp dụng các biện pháp tổng hợp như thủy lợi, canh tác, phân bón... trong đó thủy lợi được coi là biện pháp quan trọng hàng đầu.

Biện pháp thủy lợi

Cần tiến hành xây dựng các hệ thống kênh, mương tưới để rửa mặn và hệ thống mương tiêu để tiêu mặn trên mặt và nước ngầm. Có 3 phương pháp rửa mặn thường được áp dụng đó là: rửa trên mặt, rửa thấm và rửa theo phương pháp kết hợp cả hai hình thức trên.

Phương pháp rửa trên mặt

Dẫn nước ngọt vào và làm đất, muối tan được rút ra khỏi phức hệ thấp thu của đất và hòa vào dung dịch (sau một khoảng thời gian ngâm ngắn), rồi sau đó tháo nước đã rửa này xuống các mương tiêu. Biện pháp này có tác dụng làm giảm tổng muối tan ở lớp đất mặn trong thời gian ngắn.

Phương pháp rửa thấm

Đưa nước ngọt vào ruộng duy trì ngâm liên tục trong một thời gian dài. Do tác động của áp suất thủy tĩnh nước chứa muối sẽ thấm dần xuống sâu theo các mạch nước ngầm thoát ra mương tiêu. Hình thức này rửa được mặn sâu cả ở các tầng đất bên dưới tuy nhiên đòi hỏi thời gian và lượng nước nhiều.

Phương pháp rửa kết hợp

Là hình thức kết hợp 2 phương pháp rửa trên mặt và rửa thấm trong khoảng thời gian ngắn. Muốn cải tạo cơ bản đất mặn, nhất thiết phải áp dụng biện pháp rửa thấm là tốt nhất. Trong quá trình rửa mặn lượng ion Cl- giảm nhanh do chúng dễ dàng bị hòa tan và rửa trôi, trong khi SO42-, HCO3- do ít bị rửa trôi hơn nên có chiều hướng tăng. Ca2+, Mg2+ và Na+ giảm dần. pH của đất có xu hướng tăng điều này có liên quan tới hàm lượng NaHCO3 tích lũy nhiều do đó dần làm tăng khả năng hấp phụ Na+ vào keo đất. Có những nơi, sau một thời gian dài áp dụng các biện pháp rửa mặn, đã xuất hiện hiện tượng ion Na+ tăng lên trong phức hệ thấp phụ làm đất xuất hiện những dấu hiệu mới mang đặc tính của đất solonet (đất mặn kiềm natri).

Biện pháp phân bón

Phân hữu cơ có tác dụng rất tốt đối với đất mặn ngoài giá trị cung cấp dinh dưỡng, phân hữu cơ dần dần cải thiện kết cấu đất. Một số loại cây phân xanh phát triển tốt trên đất mặn như bèo dâu, điền thanh hạt tròn... nên phát triển những cây này ở những vùng đất mặn. Ðối với phân khoáng nên tăng cường đầu tư N, P, K cho phù hợp với từng loại cây trồng trong đó chú ý quan tâm đến phân lân yếu tố dinh dưỡng hạn chế đối với cây trồng ở đây.

Biện pháp canh tác

Cần xây dựng chế độ canh tác hợp lý cho vùng đất mặn. Ðối với đất mặn nhiều tốt nhất là đưa vào trồng các cây có khả năng chịu mặn như cói, phân xanh trong một số năm để cải tạo độ mặn rồi sau đó mới trồng lúa hay các loại hoa màu khác. Những nơi đất mặn ít cần đưa vào các công thức luân canh hợp lý giữa các cây trồng để hạn chế quá trình tích lũy hay bốc mặn trong đất. Nên thường xuyên duy trì lớp nước trên mặt ruông. Ðối với vùng đất đã được cải tạo cũng không được để đất bị hạn, ở những vùng không thuận lợi trong việc tưới do thiếu nước ngọt rửa mặn thì tuyệt nhiên cũng không nên làm ải.

Hoạt động kinh tế trên vùng đất nhiễm mặn

Các cây trồng phù hợp trên đất mặn

Trồng Giống lúa ST5 trên đất nhiễm mặn, Trồng khóm trên đất mặn, Trồng mãng cầu xiêm trên đất mặn, Trồng dừa xiêm đỏ trên đất mặn, trồng rừng ngập mặn như Rừng Đước Bạc Liêu

Nuôi trồng thuỷ sản

Nuôi tôm sú [[1]], nuôi cua công nghiệp [[2]], nuôi nghêu [[3]].

Làm muối

Du lịch sinh thái

San chim Bac Lieu.jpg

Chua xiem cang.jpg

Cau kim son.jpg

Dua ghe ngo.jpg




Chú thích