Đất ngập nước

Từ FOSS Vietnam - Giáo Dục Môi Trường
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm

Định nghĩa đất ngập nước

Đất ngập nước bao gồm: những vùng đầm lầy, đầm lầy than bùn, những vực nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, những vùng ngập nước tạm thời hay thường xuyên, những vực nước đứng hay chảy, là nước ngọt, nước lợ hay nước mặn, kể cả những vực nước biển có độ sâu không quá 6m khi triều thấp.

Đất ngập nước cũng bao gồm các vùng ven sông và ven biển nằm kề các vùng đất ngập nước, cũng như các đảo hoặc các thuỷ vực biển sâu hơn 6m khi triều thấp, nằm trong các vùng đất ngập nước.

Hệ sinh thái đất ngập nước

Vai trò của đất ngập nước

Dù rộng hay hẹp, vai trò của các vùng đất ngập nước hầu như đều giống nhau, đó là cung cấp cho con người nhiên liệu, thức ăn, là nơi giải trí, là nơi lưu trữ các nguồn gen quý hiếm. Đất ngập nước là những hệ sinh thái có năng suất cao, cung cấp cho con người gần 2/3 sản lượng đánh bắt cá, là nơi cung cấp lúa gạo nuôi sống gần 3 tỷ người. Đất ngập nước cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự sống còn của các loài chim.


Giá trị và chức năng của đất ngập nước

-Các chức năng của đất ngập nước: Các mối tương tác của các thành phần lý, sinh và hoá của một vùng đất ngập nước như đất, nước, thực vật và động vật, đã giúp vùng đất ngập nước đó thực hiện chức năng nhất định, như:

+ Lưu giữ nước;

+ Chống bão và giảm lụt;

Nvn 1295945983.jpg

+ Ổn định đường bờ và chống xói mòn

+ Nạp lại nước ngầm (di chuyển nước từ vùng đất ngập nước xuống tầng ngậm nước ngầm);

+ Cấp nước ngầm( di chuyển nước lên và trở thành nước nước mặt ở vùng đất ngập nước);

+ Lọc nước;

+ Giữ các dưỡng chất;

+ Giữ các cặn lắng;

+ Giữ các chất ô nhiễm;

+ Ổn định các điều kiện khí hậu cục bộ, nhất là lượng mưa và nhiệt độ.

-Các giá trị của đất ngập nước:

Các vùng đất ngập nước là những môi trường có năng suất nhất của thế giới, là những chiếc nôi của đa dạng sinh học cung cấp nước và năng suất sơ cấp để vô số các loài động và thực vật tồn tại. Các giá trị cụ thể của đất ngập nước là:

+ Cấp nước (cả lượng lẫn chất). Ví dụ như một vùng đất ngập nước có giá trị khoảng vài chục hectares sẽ có khả năng lọc và xử lý nước thải tương đương với một trạm xử lý nước nhiều triệu dollars.

+ Nguồn lợi thuỷ hải sản: Trong số 20.000 lòai cá trên thế giới, hơn 40% sống trong nước ngọt, hơn 2/3 sản lượng cá có liên quan đến sự lành mạnh của các vùng đất ngập nước);

+ Nông nghiệp, thông qua việc duy trì các mức nước; Ví dụ, lúa là một thực vật phổ biến của đất ngập nước, là nguồn thực vật của hơn một nửa nhân loại. Các vùng đất ngập nước còn lại là những vật liệu di truyền thực vật.

+ Sản xuất gỗ;

+ Cung cấp các nguồn năng lượng, như than bùn và chất thực vật;

+ Các nguồn tài nguyên động vật hoang dã: Các vùng đất ngập nước hỗ trợ cuộc sống của rất nhiều quần thể chim, động vật có vú, bò sát, lưỡng cư. cá và các loài động vật không xương sống.

+ Các cơ hội giải trí và du lịch.

Ngoài ra, các vùng đất ngập nước còn có các đặc tính đặc biệt về di sản văn hoá của loài người; các vùng đất ngập nước có liên quan đến tín ngưỡng và vũ trụ, hình thành nên nguồn khát vọng thẩm mỹ, tạo ra các vùng sinh cảnh của đời sống hoang dã, cũng như tạo cơ sở cho các truyền thống quan trọng địa phương.

Đất ngập nước ở ĐBSCL

Việt Nam là một nước giàu các hệ sinh thái đất ngập nước, với diện tích ĐNN hơn 10 triệu ha, chiếm 1/3 diện tích đất đai cả nước, chủ yếu phân bổ ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long với các hệ sinh thái đầm phá, các bãi bùn, các vùng cửa sông, rừng ngập mặn dọc theo bờ biển từ Móng cái đến Hà Tiên.

10651324 66167.jpg

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có tổng diện tích phần đất liền là 4 triệu ha. Nếu tính cả diện tích vùng ven biển cạn dưới 6 mét thì tổng diện tích của ĐBSCL là 5.117.590 ha. Gần 90% tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng được coi là đất ngập nước, trong thực tế đây là vùng đồng bằng đất ngập nước điển hình của vùng hạ lưu sông Mê-kông. Hệ thống phân loại đất ngập nước cho vùng hạ lưu sông Mekong”(1993) của Uỷ hội Sông Mê Kông đã phân loại đất ngập nước cho vùng ĐBSCL với 05 loại đất ngập nước chính. Trên sở 5 loại chính đã phân chia thành 40 dạng (type) đất ngập nước khác nhau. Hai hệ sinh thái rừng tiêu biểu đã hình thành trên các vùng đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long là hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái rừng tràm.

Đất ngập nước ở đồng bằng sông Cửu Long có nhiều giá trị và các chức năng quan trọng. Sự đa dạng sinh học và các tài nguyên của đất ngập nước có ý nghĩa lớn trong quá trình phát triển của đồng bằng. Hàng năm, đồng bằng sông Cửu Long cung cấp trên 40 % tổng sản lượng lương thực của cả nước và là nơi cư ngụ của trên 17 triệu người. Ngày nay, sản lượng lương thực và thủy sản của toàn đồng bằng đóng góp 1/3 tổng thu nhập quốc dân của cả nước. Các hệ sinh thái rừng ngập mặn và rừng tràm có nhiều giá trị trong việc cung cấp sản phẩm, duy trì cân bằng sinh thái và bảo tồn thiên nhiên; cung cấp nơi kiếm ăn, khu cư trú cho các loài chim qúi hiếm như : Sếu đầu đỏ, cồng cộc , ô tác , giang sen... và các loài sinh vật nước như: cua, cá, tôm; cung cấp dinh dưỡng, tài nguyên thiên nhiên cho con người. Hệ sinh thái rừng tràm có vai trò rất quan trọng như: hạn chế quá trình sinh phèn ở lớp đất mặt và nước mặt; lưu trữ lượng nước ngọt trong năm, duy trì độ ẩm của đất; Rừng tràm còn góp phần điều tiết khí hậu, duy trì độ ẩm không khí và hạn chế quá trình bốc hơi, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.


Sử dụng chưa hiệu quả đất ngập nước

Được biết, các vùng đất ngập nước của đồng bằng sông Cửu Long rộng 1.094 km2, chiếm 2,7% diện tích toàn vùng và đang bị ảnh hưởng bởi các hoạt động san lấp ao, hồ để lấy đất trồng trọt hoặc xây dựng; khai thác không bền vững hệ động vật, thực vật ở các vùng đất ngập nước; thay đổi đặc tính thuỷ văn của các con sông do xây đê, đắp đập, nắn dòng các con sông; ô nhiễm và làm suy thoái đất ngập nước do chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và thuốc trừ sâu, phân hóa học. Vì vậy,thực hiện chương trình bảo tồn, sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước vùng hạ lưu sông Mê Kông được xem là một trong những công tác quan trọng của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.


ĐBSCL bảo tồn, sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước

Các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đang thực hiện chương trình bảo tồn, sử dụng bền vững tài nguyên đất ngập nước vùng hạ lưu sông Mê Kông, trước hết tại các tỉnh Long An, An Giang, Hậu Giang, Kiên Giang.

Theo đó, các tỉnh đang tổ chức điều tra, thống kê, đánh giá tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đa dạng sinh học tại các vùng đất ngập nước; tiến hành khoanh vùng và quy hoạch các vùng đất ngập nước có ý nghĩa quốc tế, quốc gia; đẩy mạnh giáo dục, truyền thông về ý nghĩa, vai trò, giá trị và phương cách quản lý, khai thác và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước; tổ chức lồng ghép vấn đề bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước để ứng phó với biến đổi khí hậu vào kế hoạch, chương trình và dự án phát triển có liên quan.

Các tỉnh tăng cường hợp tác quốc tế về bảo tồn phát triển các vùng đất ngập nước; nâng cao năng lực quản lý cấp vùng và địa phương; tiếp tục thực hiện nhiều biện pháp giáo dục, nâng cao nhận thức của các tầng lớp trong xã hội về giá trị của vùng tài nguyên này. Qua đó, góp phần ngăn chặn hành vi phá hoại môi trường đất, nước, rừng, không khí; đưa vào ứng dụng các chương trình phát triển kinh tế gia đình như trợ vốn, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho những người dân sống trong vùng cần bảo vệ; nhân rộng mô hình sản xuất, dịch vụ có hiệu quả bền vững như tại vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp). Thời gian qua, Đồng Tháp là tỉnh đã thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật của hệ sinh thái tại đây trên cơ sở đảm bảo chế độ thủy văn phù hợp. Đồng Tháp đã bảo tồn, phục hồi và phát triển cảnh quan tự nhiên, hệ sinh thái chuẩn nguyên sinh như khi chưa được khai thác để phục vụ nghiên cứu khoa học, tuyên truyền và phục vụ tham quan du lịch. Tỉnh đã bố trí lại dân cư sống quanh vùng hợp lý, tạo sự ổn định về nhà ở, đất canh tác, ổn định cuộc sống, từ đó người dân tự giác tham gia bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của vườn. Song song đó, tỉnh phát triển cơ sở hạ tầng làm nền tảng phát triển du lịch sinh thái, mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư và xã hội với đặc trưng kiến trúc của vùng đất ngập nước, vừa hiện đại, vừa mang bản sắc đồng bằng Nam bộ.

Tham khảo